Showing posts with label Tác giả Phuc Nguyen. Show all posts
Showing posts with label Tác giả Phuc Nguyen. Show all posts

Friday, December 30, 2011

THƯỞNG THỨC BÒ KOBÉ Ở SÀI GÒN


Khi nói tới tinh hoa ẩm thực châu Á, người ta không thể không nhắc đến Nhật bản. Mà nói đến ẩm thực Nhật bản người ta không quên nói đến thịt bò Kobé.

Món thịt bò trứ danh thế giới này đến từ Kobé là một thành phố cảng lớn của Nhật thuộc vùng Kinki nằm trên đảo Honshu.

Nhìn vào cách nuôi bò mới hiểu được sự cầu kỳ và tinh túy trong ẩm thực của người Nhật. Chúng được nuôi từ 500-600 ngày và sự tăng trọng lượng chỉ cho phép từ 0.8kg mỗi ngày. Thức ăn chính của giống bò Kobé là bắp non, lúa mạch, đậu nành, gạo Nhật…, và đặc biệt chúng được uống bia hang ngày để giúp ăn ngon miệng. Hơn thế nữa bò còn được tắm nước suối nóng tinh khiết, nghe nhạc cổ điển của Mozart, Beethoven, Chopin để thư giãn, được massage với rượu saké khiến cho những lớp mỡ hòa quyện vào lớp nạc tạo ra những đường vân mỡ màu trắng xen kẽ với những thớ thịt hồng (đây cũng là đặc điểm để phân biệt bò Kobé với các loại thịt bò khác). Chính cuộc sống xa hoa như thế nên thịt bò Kobe mềm, thơm và ngậy. Do quy trình nuôi dưỡng rất khắt khe, mỗi năm chỉ có khoảng 4,000 con bò đủ tiêu chuẩn thịt bò Kobe, còn loại bò hạng nhất đạt tiêu chuẩn A5 chỉ khoảng 1,200 con. Thật thú vị khi có thể thưởng thức món ăn trứ danh này ngay trên đất Sài gòn. Một trong những địa điểm là nhà hàng Wildfire – nơi bạn có thể hưởng được sự khác biệt của một miếng thịt bò Kobe với chất lượng A5.

Ngoài món bò Kobe – nét tinh hoa của ẩm thực Nhật bản, Wildfire còn có nhiều sự lựa chọn hấp dẫn khác như: món tôm hùm nướng, cá hồi nướng với trứng cá hồi, trứng hấp với sò điệp Nhật hoặc gan ngỗng kết hợp với trứng cá cavia hảo hạng… Bên cạnh đó những món tráng miệng lạ như cream brulée với mùi vanilla hay mùi hương trà lavanger thật quyến rũ. Vị ngọt ngào của trái lê Nhật quyện trong vị nồng cay của rượu vang với hương vanilla thơm mát là kết luận tuyệt vời cho thực khách.

Không gian bài trí thanh lịch sang trọng, các món ăn tinh tế và đặc sắc, Wildfire đang là địa chỉ ẩm thực thú vị cho những người sành điệu.
(Phỏng từ Vietnam Airline magazine)

Phuc Nguyen
Đọc tiếp →

Friday, December 16, 2011

MẮM MIỀN NAM


Dọc theo ngàn dặm, sông ngòi và bờ biển Việt Nam xưa nay vốn nhiều cá để muối, âu cũng là một tài nguyên quý giá trời ban. Nguồn tài nguyên vô tận nơi đáy nước, có lẽ ngoài muối hay tôm cua cá, gần gũi và gắn bó nhất với cuộc sống của con người vẫn là các món mắm, mặm mòi và đơn giản…
Món ăn mà nguyên liệu đơn giản là được lên men chủ yếu từ đạm của thủy hải sản, muối và thính. Khi đất nước trải dài bao nhiêu chặng thiên lý thì cũng chừng ấy thời gian dựa mắm được hình thành, mỗi miền mỗi vẻ, sung túc cơm trắng mắm thơm. Ở Bắc bộ, sau tương cà là các món mắm đồng với nét đặc  trưng của duyên hải chiêm trũng như mắm tôm Thanh Hóa, mắm tép Gia Viễn Ninh Bình mắm rươi Hải Phòng… Tiếp bước vào miền Trung, ngoài xứ mắm ruốc Huế danh tiếng xưa nay, bên kia đèo Hải Vân vẫn còn mắm nhum Sa Huỳnh Quãng Ngãi, mắm cá thu Bình Định… Về miền Nam bộ, với tôm cá ngút ngàn thí quả thực là thiên đường của mắm với mắm thái Châu đốc, mắm ba khía Cà mau, mắm còng Cần Giộc, mắm tôm chả Gò Công… Ngoài ra còn có các món mắm đặc biệt của người Khmer như mắm bò ót, mắm Prahoc. Những vựa mắm lẫy lừng ấy có khi đầy ấp với chum vại thạp sành, có khi lĩnh kĩnh với vò, hũ nút lá chuối…nhưng màu men da lươn tưởng đã quá quen thuộc trong khung cảnh trời đất, bao năm rồi khi mùa trở lạnh vẫn luôn gợi nhớ mùi vị thân thuộc.
Việc làm mắm mỗi nơi mỗi khác, cũng như mỗi loại mắm chỉ có một mùa để làm. Nếu như mùa làm mắm rươi ở miền bắc thường vào cuối tháng chín đầu tháng mười thì làm mắm thu Bình Định lại rộ theo mùa cá từ tháng hai đến tháng năm, nếu khoảng thời gian sau Tết là thời gian bà con miền Nam vào mùa tát đìa bắt cá đồng làm mắm thì mùa làm mắm cá linh lại diễn ra khi mùa con nước lên…, cũng vậy với mùa làm mắm ruốc ở Huế khoảng từ tháng giêng đến tháng tư mỗi khi mùa ruốc về…
Mắm trong đời sống, có thể nói không có thể gần gũi hơn đối với mỗi người, mỗi gia đình. Mắm là món ăn, mắm chế biến thức ăn và mắm bảo quản thức ăn. Đơn giản nhất là mắm được gia giảm gia vị dùng để ăn kèm với thực phẩm và rau… Sau nữa là được dùng như một gia vị đặc biệt để chế biến các món ăn, nhiều lắm những món không thể không có mắm như mắm ruốc với bún bò Huế, mắm cá sặc trong tô bún nước lèo, mắm tôm trong bát bún thang.
Cách ăn hay cách chế biến từng món mắm đã trở thành nếp nghĩ, nếp nhà, thật mà khó mà có thể thay đổi. Còn đó mắm tôm chua ăn với thịt ba rọi, mắm cáy ăn với với ray lang luộc, còn đó mắm rươi trộn vỏ quít băm ăn với thịt chân giò luộc, cải cúc, rau cần, hay mắm tép rang với thịt ba rọi, còn đó bông súng chấm mắm kho, hay mắm cá thu với chuối chat, khế xanh, thịt luộc, bánh tráng, rau thơm…Món nào mắm nấy, chỉ điểm qua thôi cũng đủ gợi bao mặm mòi hương vị.
Đừng chê mắm ruốc tanh hôi
Có mắm có ruốc mới rồi bữa cơm..
Là câu ca quen thuộc của Huế, nhưng Huế không chỉ là xứ mắm ruốc. Ở miền đất thần kinh này, mùa nào mắm đấy, sản vật từ mắm phong phú đến lạ kỳ. Có thể kể ra đây đủ thứ mắm mà mới nghe tên đã muốm hít hà, từ các mắm từ thủy sản như mắm ngừ, mắm nục, mắm ngọt, mắm chuồn, mắm dút, mắm còng, mắm sò…Tài hoa nhất của người phụ nữ Huế có lẽ là việc chế biến những món mắm chay gọi là mắm nhưng không phải là mắm nhưng cũng lại là mắm được dùng trong các bữa cơm chay. Có thể kể đến các món mắm rối, mắm cà, mắm dưa vẫn được làm từ thực vật như dưa gang, cà rốt, củ cải, xơ mít, tiềng ớt, phù trúc, bột gạo rang…Mắm vốn là là loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe. Ông bà ta vẫn nói “ăn cơm với mắm, thắm thịt đỏ da”. Cũng bởi mắm là gốc của nước mắm, bởi vậy có bao nhiêu thứ mắm thì cũng dường như có thể nấu ra bấy nhiêu thứ mắm trên đời, mỗi loại ngon một kiểu, không thể kể hết ra đây được. Mắm quá gần gũi trong mâm cơm mỗi ngày, vì vậy măm đi vào ca dao cũng giản dị như cách mắm đi vào cuộc sống, với bao hương đồng gió nội.
Vẫn còn đó trong những câu chuyện kể ngày mưa, về những loại mắm được vinh danh là mắm nhự loại mắm mà thuở không xa vẫn được tiến vua nơi kinh thành. Trong sắc màu mơ hồ của giai thoại có thể điểm thấy tên của mắm tôm chà Gò Công, mắm rươi, mắm cá cơm, mắm nhum.. Thực hư về mắm Ngự vẫn chưa bao giờ ngã ngũ,  nhưng sự quyến rũ của mắm trong cuộc sống thì thực sự hiển hiện.
Hết mắm em còn đi đơm
Ba năm mắm ngấu làm cơm thết chàng..
Khi gió mùa trở mình vì lạnh không biết ai sẽ nhớ mùi mắm thuở chưa xa?
Sau 1975 nhiều quán lẩu mắm mọc lên nhan nhãn khắp nơi trong và ngoài thành phố, ra cả hải ngoại. Những biến thể về sau này chẳng qua là một kiểu tiếp biến văn hoá ẩm thực giữa người Khmer bản địa và người miền Trung và Nam khẩn hoang. Biến thể đậm nhất, có thể nói là biểu tượng của vùng sông nước miền Nam, là đĩa rau hoành tráng với hàng chục loại rau. Lẩu mắm ngon một phần chính nhờ ở mâm rau. Lẩu mắm ở Sài Gòn thường có rau muống, kèo nèo, bông súng, đậu bắp, bạc hà, khế, bắp chuối, rau nhút, thơm, chuối chát...


Ấn tượng thị giác của người ăn lẩu mắm là mâm rau, với màu sắc xanh đỏ vàng. Xanh của rau. Đỏ của bông so đũa Thái. Vàng của bông bí. Ấn tượng vị giác của lẩu là nước lèo mắm chưng. Mắm thường là mắm cá sặc, cũng có nơi dùng mắm lóc, mắm cá linh, mắm cá trèn. Và một số gia vị khác kèm, để giảm bớt mùi mắm. Nhưng dân sành điệu lại không thích mùi mắm nhạt, bởi vậy mắm bò hóc của người Khmer ở miền Tây mới làm nên danh giá của lẩu mắm, của bún mắm hay bún nước lèo.
Ngày nay ở Sài Gòn mọc lên một số địa chỉ nổi tiếng về lẩu mắm như Phước Thành trên đường Lê Thị Riêng có lịch sử thành lập từ năm 1949, Phong Lan ở ngoài cầu Sài Gòn. Có nơi chọn phong cách nấu mắm khá đặc như Phước Thành, tôm cá bỏ vào lẩu nổi lên như người ta tắm ở Biển Chết không biết bơi vẫn cứ nổi. Lẩu ở Sài Gòn không ngon bằng lẩu ở một số nhà hàng miền Tây, do độ tươi của thực phẩm không bằng. Có thuyết bảo lẩu mắm gốc Cần Thơ, ban đầu có tên gọi là lẩu mắm Ninh Kiều. Và hiện nay nổi tiếng nhất ở xứ này là lẩu mắm Dạ Lý. Bà chủ quán này cho biết lẩu ở đây được điều chỉnh theo gu của người ăn, tuỳ hạng người mà gia giảm mùi vị. Thực ra lẩu mắm không phải của riêng Sài Gòn, mà là món ruột của miền Nam, biểu tượng của sông nước miền Nam…

Nguyễn Hồng Phúc


Đọc tiếp →

Wednesday, November 16, 2011

CHIẾN TRANH MA TÚY Ở COLOMBIA -PHẦN 2



Sự cần thiết không có luật lệ. Vì thế chúng tôi buôn thuốc phiện như một phương tiện. Chúng tôi phải bảo vệ đất nước chiến đấu chống Cộng sản, và muốn chiến đấu, chúng tôi cần có quân đội, và quân đội cần có súng đạn và muốn có súng đạn chúng ta phải có tiền. Trong những vùng núi hoang vu của Tam Giác Vàng tiền chỉ nằm trong ma túy và thuốc phiện… Theo tướng người Mường tên Tuan Shi-Wen của quân du kích quốc gia Miến Điện KMT năm 1967(phỏng vấn bởi nhà báo Mc Coy 1991 p. 352)
Sơ lược :
Thuốc phiện được biết đến từ Âu châu và Á châu từ thời đại đế quốc La Mã như liều thuốc trị liệu nhập từ Trung Đông như Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư (Persia). Sự tiêu thụ á phiện được nhập vào Đông Nam Á bởi dân thương mại Á rập từ Địa Trung Hải. Thái Lan bắt đầu dùng á phiện từ năm 1366 và Miến Điện năm 1519. Nước Ấn Độ trồng á phiện cổ điển như vị thuốc trị liệu vùng Patna. Thời này các nước Á châu, Trung Đông và Âu châu dùng thuốc phiện để làm giảm đau (painkiller), giảm nhiệt và trị ho vì họ chưa có penicillin như ngày nay (từ năm 1928). Với sự bành trướng của cường quốc thuộc địa như Anh Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha thì á phiện bành trướng mạnh mẽ ở Á châu vào thế kỷ 16 và 17.  Người Hà Lan (Dutch) tập cho dân Trung quốc thói quen hút thuốc lào trộn thêm á phiện vào trong ống điếu pipe để gây cảm giác ngây ngất. Dần dà rồi nó trở thành thói quen nghiện cho dân Java, giống dân thường hay hút thuốc lào. Sau năm 1773, Hãng British East India bắt đầu kiểm soát á phiện nhập từ Ấn vào biên giới Trung quốc. Năm 1820 Tần Thủy Hoàng (Chinese Qing emperor) ra lệnh cấm dùng á phiện nên buộc việc buôn bán trao đổi á phiện chuyển về vùng Guangzhou Canton. Vào cuối thế kỷ thứ 18 thì đa số dân Trung Quốc đổi hẳn thuốc lào thành thuốc phiện, xem như thú vui cao thượng của dân sang trọng (mốt thời thượng). Người Trung Quốc bắt đầu trồng anh túc cần sa từ năm 1736 ở tỉnh Yunnan. Đến thế kỷ thứ 18 việc trồng trọt cần sa chuyển dần về biên giới Miến Điện, tỉnh Kachin và Shan và Lào. Sau cuộc nổi dậy thất bại của dân Mường ở Yunnan nên họ di dân dần về phía bắc Lào quốc để tiếp tục trồng trọt cần sa. Trồng cần sa là nghề nông chính của cư dân Mường.
Trong thế kỷ 19, hoạt động buôn lậu thuốc phiện tới Trung Quốc xuất phát từ Ấn Độ, đặc biệt là hoạt động của người Anh, là nguyên nhân chính gây ra cuộc chiến mang tên Chiến tranh thuốc phiện/ma túy (1839-1856). Hậu quả của cuộc chiến này là Vương quốc Anh đã chiếm giữ Hồng Kông và thảo ra một thỏa ước mà người Trung Quốc gọi là "sự xỉ nhục thế kỷ". Buôn bán thuốc phiện đã trở thành một trong những nghề thu lời lớn nhất và được nhà nghiên cứu lịch sử thuộc Đại học Harvard, ông John K. Fairbank đánh giá là "tội ác kéo dài nhất và mang tính hệ thống quốc tế trong thời hiện đại." Năm 1949 sau khi Mao Trạch Đông đánh bại quân quốc gia Kuomitang (Quốc Dân Đảng)( KMT- Tưởng Giới Thạch) để thống nhất đất nước. Trung Quốc liền ban hành lệnh cấm dùng thuốc phiện và cho kiểm soát thật gắt gao. Đảng Cộng sản tuyên truyền mạnh mẽ phong trào chống thuốc phiện từ 1949-1952 và giữa thập niên 50 hình như việc trồng trọt cần sa anh túc không còn tồn tại bên Trung Quốc. Việc buôn bán thuốc phiện giảm hẳn tại Trung quốc không hẳn do lệnh cấm mà trùng hợp với sự phát minh của pennicillin năm 1928 và vài năm sau thế chiến thứ hai thì thuốc trụ sinh cũng ra đời để thay thế thuốc phiện trong việc chữa trị. Từ đó thuốc phiện trở nên lỗi thời và được thay thế bằng thuốc lá hiện đại sang trọng hơn. Việc hút thuốc lá từ một điếu mỗi ngày, năm 1952 tăng lên 10 điếu năm 1992. Như vậy sự thuyên giảm thuốc phiện nhanh chống tại Trung quốc là một trong những lý do làm tăng trưởng việc trồng trọt anh túc á phiện ở biên giới Miến Điện, Thái và Lào trong thời Chiến Tranh lạnh. Sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt, nhưng Đông Nam Á vẫn bị ảnh hưởng nặng bởi chiến tranh. Dân tàn quân KMT bị đánh bại bởi Mao Trạch Đông rút về biên giới Miến và trở thành quân đội phía bắc tỉnh bang Shan. Quân đội này dính líu nhiều vào việc trao đổi buôn bán thuốc phiện vùng biên giới ba nước Miến, Thái và Lào. Quân đội Trung quốc và Miến Điện hợp tác đánh đuổi quân KMT chạy về phía bắc Thái lan và hoàn toàn bị giải tán giữa thập niên 1980, nhưng hệ thống và đường dây buôn lậu thuốc phiện được thiết lập bởi nhóm KMT vẫn tồn tại. Sau cuộc đảo chính năm 1962 bên Miến Điện nhiều cuộc nổi dậy của dân tộc thiểu số ở tiểu bang Shan và Kachin (Miến) để dành độc lập và tự chủ. Trong khi đó bên Lào chiến tranh dân sự xảy ra giữa chính quyền hỗ trợ bởi Hoa Kỳ và nhóm Pathet Lào được hỗ trợ bởi Việt nam. Tương tự như thế bên Thái cũng có nhiều cuộc nổi dậy với tầm vóc nhỏ hơn. Tiểu bang Shan là nơi trồng trọt á phiện nhiều nhất cũng là nơi mà nông dân chống lệnh cấm trồng cần sa á phiện mạnh mẽ ban ra bởi chính quyền hiện tại. Đa số quân nổi dậy chống đối chính quyền chỉ tồn tại và nuôi quân nhờ vào lợi tức từ đánh thuế nông dân trồng anh túc cần sa, bảo vệ lab chế biến thuốc phiện và chuyên chở thuốc phiện vào đất Thái.
Không có hạn chế hợp pháp nào về việc nhập hay sử dụng ma túy ở Mỹ cho đến khi sắc lệnh San Francisco, California ra đời cấm hút thuốc phiện trong những lều thuốc phiện vào năm 1875. Luật Ngăn Chặn Ma Túy (The Opium Exclusion Act) năm 1909 cấm nhập cảng thuốc phiện. Pháp chế quan trọng khác bao gồm Luật Thế Thuốc Gây Mê Harrison Narcotics Tax Act năm 1914. Trước thời gian này, các loại thuốc thường chứa thuốc phiện mà không có nhãn cảnh báo. Tổng thống Mỹ William Henry Harrison được chữa trị bằng thuốc phiện vào năm 1841. Ngày nay, có rất nhiều luật quốc gia và quốc tế quản lý việc sản xuất và phân phối chất gây mê. Cụ thể, Article 23 of the Single Convention on Narcotic Drugs yêu cầu các quốc gia sản xuất thuốc phiện chỉ định một cơ quan chính phủ chiếm giữ các vụ mùa thuốc phiện tự nhiên càng sớm càng tốt ngay sau khi thu hoạch chỉ đạo việc bán sỉ và xuất khẩu thông qua cơ quan đó. Việc sử dụng thuốc của thuốc phiện được kiểm soát chặt chẽ trên toàn thế giới và việc sử dụng không vì mục đích chữa bệnh nói chung bị cấm.
Cây anh túc thuốc phiện (poppy) là loại cây vườn phổ biến và thu hút. Hoa của chúng đa dạng về màu sắc, kích cỡ và hình dáng. Việc trong một lượng nhỏ trong vườn riêng thường không bị quản lý về mặt pháp luật. Vỏ hạt khô của chúng thường được dùng để trang trí và các hạt nhỏ có chứa một lượng không đáng kể chất alkaloids có chứa thuốc phiện được dùng làm lớp mặt phổ biến và có hương thơm của bánh mì và bánh ngọt. Thuốc phiện có thể được dùng để hút, đôi khi hút kèm với thuốc lá, nhưng thuốc phiện cần nhiệt độ cao để chất alkaloid bốc hơi, vì thế người ta thường sử dụng những ống điếu đặc biệt mỗi khi hút thuốc phiện. Một giọt nhỏ thuốc phiện bị dính gần lỗ trong ống tẩu là chất rất dễ dính. Người hút, ngồi tựa bên cạnh chiếc đèn, thổi vào chiếc ống phía trên than hồng để tăng nhiệt mà than hồng tỏa ra. Khi thuốc phiện bay hơi, người hút bắt đầu hít vào. Một cách thông dụng khác là làm bay hơi thuốc phiện trên một tấm kim loại được đun nóng từ phía dưới bằng hộp quẹt. Hơi thuốc sau đó được hít vào thông qua một ống nhỏ. Đây là giây phút được gọi là ‘lên tiên’, và đây cũng là một cách chung để hút các thuốc có hòa thuốc phiện bất hợp pháp khác - morphine và heroin.


Trên thế giới  có 3 nơi trồng và sản xuất ma túy thuốc phiện lớn nhất -  Nam Mỹ (Colombia, Peru, Bolivia và Mễ), Trung Đông vùng Lưởi liềm Vàng (Golden Crest) gồm Afghanistan, Pakistan và Ấn. Phía Nam Mỹ vụ buôn lậu ma túy vào Hoa Kỳ được viết trong Phấn 1 - bài Chiến tranh ma túy ở Colombia. Bài này chúng tôi chú trọng nhiều về việc sản xuất và tiêu thụ ma túy ở Á châu nhất là khu Tam Giác Vàng.





Tam Giác Vàng - Vùng biên giới giữa 3 nước Thái Lan, Lào, Myanmar mang tên Tam giác vàng từng nổi tiếng là khu vực sản xuất thuốc phiện hàng đầu thế giới, nay đang trở thành một điểm du lịch hấp dẫn. Từ Chiang Mai (Thái Lan), du khách có thể vượt qua 300 km đường rừng núi hiểm trở để đến vùng biên giới này. Nằm trên bờ sông Mêkông thuộc địa phận thành phố Chiang Rai- một tỉnh biên giới miền Bắc Thái Lan, nơi đây những năm 70 đã từng là đại bản doanh của trùm thuốc phiện Khun Sa khét tiếng, nhưng ngày nay không còn trồng thuốc phiện nữa mà trở thành khu du lịch sinh thái lý tưởng, theo đó, những cánh đồng anh túc năm xưa được thay bằng những thửa ruộng hoa màu, cây trái quanh năm xanh tốt. Khu vực này có diện tích vào khoảng 350,000 km vuông. “Nhiều người đặt chân đến Mae Hong Son, TP Chiang Rai, những nơi từng nằm trong Tam Giác Vàng với những nhà hàng, khách sạn cao cấp, các khu giải trí hiện đại… và cứ nghĩ rằng mình đã biết về Tam Giác Vàng thì thật là sai lầm. Đó chỉ một phần nhỏ của “vùng đất chết” này. Muốn hiểu rõ về Tam Giác Vàng thì phải đặt chân đến vùng biên giới, vào vùng rừng núi Myanmar… mà không phải ai vào cũng được, nếu như không biết đi bằng con đường “lậu”…”. Khu vực giáp ranh giữa 3 nước, địa hình chủ yếu là đồi núi hiểm trở. Do nằm xa các trung tâm hành chính, hiểm trở cũng như do đặc điểm của khu vực biên giới, việc kiểm soát của Chính phủ các nước đối với khu vực này là rất hạn chế. Con đường biên giới ngày càng hẹp dần và khúc khủy, phải vén cả cây rừng, men theo lối mòn mà đi theo triền núi. Thấp thoáng xa xa bên kia biên giới, có những đoàn lừa di chuyển, ẩn hiện qua lại, thì đó có thể là những đoàn lừa chở thuốc phiện đến những điểm chế biến bí mật và bám theo những đoàn lừa đó là những tay súng được ngụy trang khắp người bằng lá rừng để bảo vệ nguồn hàng.
“Vua” thuốc phiện Khun Sa trước đây đóng đại bản doanh ở khu vực cao nguyên phía Bắc Myanmar với một quân đội riêng gồm 15 ngàn tay súng, chủ yếu là tuyển từ trẻ con do nhanh nhạy, dễ ẩn nấp và phần vì không đủ người lớn để tuyển. Khi ấy, Khun Sa là con người có thanh thế nhất trong số các lãnh chúa sản xuất thuốc phiện và cũng là người giàu nhất.  Không ai biết chính xác mặt của ông ta vì lúc nào ở đó cũng có đến 5, 6 Khun Sa giống nhau như đúc, ở những ngôi nhà cũng giống hệt nhau để đề phòng người ta ám hại. Trong nhiều năm thập kỷ 1970 tên “Vua” thuốc phiện này là nhân vật truy tầm số một của Hoa Kỳ mặc dù y chưa bao giờ sống tại Mỹ. Tòa Án New York kết án y về tội xuất khẩu ma túy và thuốc phiện vào New York từ khu Tam Giác Vàng. Khun sa người gốc Mường và trở thành đầu nảo nhóm du kích MTA (Mong T’ai Army) và mất năm 2007 ở Yangon (Rangoon).  Tuy nhiên, theo nhà báo SarChai thì việc điều hành sản xuất, ma túy tại Tam Giác Vàng hiện nay sau thời Khun Sa thì lại đến thủ lĩnh Bao Youxiang với “quốc gia” Wa ở Myanmar cầm đầu. Ông trùm thuốc phiện này cũng quỷ quyệt và táo bạo không kém gì “vua” Khun Sa lúc trước. Bao là người con thứ sáu trong số tám người con của bộ tộc Wa. Ông ta lập nên phong trào chiến tranh du kích chống chính phủ. Năm 1989, Bao thành lập quân đội riêng với 20,000 lính chuyên nghiệp và hơn 40,000 nhân viên dân sự. Sau đó, thành lập nhà nước tự trị và năm 1996, trở thành ông trùm mới của Tam Giác Vàng sau thời Khun Sa. Tháng 1 năm 2005, Bao cùng 3 tay chân thân tín của mình đã từng bị Tòa án New York xử vắng mặt về tội sản xuất bạch phiến, buôn lậu ma túy… vào nước Mỹ. Cái đầu của Bao được Mỹ treo giá 3 triệu USD và tay trùm này được xem là một kẻ đứng đầu tổ chức khủng bố nguy hiểm sau Bin Laden. Từ cuối năm 2005, Bao tiến hành phát giống lúa mạch miễn phí cho nông dân của mình để thôi không trồng cần sa nữa đúng như lời hứa của ông ta cách đây nhiều năm. Bao di dân xuống phía nam và định biến Tam Giác Vàng thành khu du lịch và vùng kinh tế trồng cây cây ăn trái, cây cao su… Sự thật về kế hoạch này như thế nào, báo SarChai cho rằng, những người hiểu rõ về Bao và từng hiểu về vùng Tam Giác Vàng đều nói bên trong nó là vẫn ẩn chứa nhiều tham vọng khác của Bao và các ông trùm ma túy khác ở vùng đất này. Một mặt di dân để “núp bóng” tiến hành việc buôn lậu các loại thuốc lắc mới dễ dàng hơn vào lãnh thổ các nước có biên giới ở đây. Đồng thời, các lãnh chúa muốn giảm sản xuất thuốc phiện để chuyển sang sản xuất thuốc kích thích metamphetamine, là một dạng thuốc “lắc’ được giới trẻ Đông Nam Á rất thích để thu được lợi nhuận cao hơn. Xem ra, cuộc chiến chống ma túy ở Tam Giác Vàng không đơn giản và chưa thật sự đến hồi kết thúc.
Ngay từ thập niên 50 của thế kỷ 20, Tam giác Vàng đã trở thành một trong những nơi trồng nhiều cây thuốc phiện, cần sa nhất thế giới. Từ năm 1976 Tam Giác Vàng xuất khẩu hơn 30% số lượng ma túy nhập vào Hoa Kỳ. Phần còn lại từ Mễ mà hàng sản xuất từ Mễ và Colombia. [2].
Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam 1954-75 Tam giác Vàng nổi tiếng vì là nơi sản xuất và nhập ma túy cho các nước đông nam Á mà người tiêu thụ đa số là lính Mỹ đang đóng rãi rác thi hành nghĩa vụ tại các nước Á châu thời bấy giờ. Sau chiến tranh Việt Nam ma túy từ Tam giác Vàng bắt đầu ồ ạt nhập lậu vào Hoa Kỳ. Theo thống kê chính phủ Hoa Kỳ thời bấy giờ thì 34% lính Mỹ đóng quân tại VN nghiện ma túy.
Cây cần sa (coca) và anh túc (poppy) trồng nhiều phía bắc cao nguyên Miến Điện, sau đó được di chuyển bằng ngựa và lừa về biên giới Thái lan và Lào để chế biến thành thuốc phiện. Hàng thuốc phiện được phân phối vào nhiều tỉnh nằm phía bắc Thái, dần về Bangkok để phân đi thị trường ngoại quốc bằng đường hàng không. Thái được xem như trung tâm phân phối ma túy. Cảnh sát Thái tăng cường mạnh chiến dịch càn quét tệ nạn ma túy thì những hoạt động chế biến thuốc phiện bí mật di chuyển dần về biên giới Thái/Mã Lai và Thái Miến Điện để bán cho thị trường Ấu châu và Tây phương.
Trong thời kỳ chiến tranh VN, nơi sản xuất ma túy vùng Tam Giác vàng nằm ở biên giới Lào & cao nguyên Miến Điện và được bán lại cho tướng người Mường, Vang Pao. Ma túy được chế biến trong một lab xếp hạng 4 nằm bên cạnh bản doanh CIA. Sau đó Tướng du kích Mường tên Vang Pao di chuyển ma túy về Vạn Tượng bằng 2 chiếc C-47 trên phi trường bí mật được cung cấp và trang bị bởi CIA. Tướng Vang Pao điều khiển 30,000 quân du kích mà đa số là thanh thiếu niên người Mường để chống Pathet Lào từ năm 1970… Người Mường có cá tính đặc biệt là rất can đảm vì dân tộc họ luôn tranh đấu chống Trung Quốc từ đầu thế kỷ thứ 19 sau khi họ bị tịch thu khu vườn trồng cần sa ở Hunan. Từ đó họ rút lui Lào để tiếp tục sự nghiệp. Như một ý kiến của một người Mường trong cuốn sách nhan đề “Air America” của Christopher Robbins phát biểu:”Họ là một dân tộc hiếu chiến thích đánh nhau, một dân tộc man dã, là kẻ thù của mọi người, họ luôn thay đổi nơi cư ngụ vì không bao giờ hài lòng những gì họ có...Nếu bạn muốn biết dân tộc tôi xin hỏi con gấu bị thương vì chiến đấu với chúng tôi, hỏi con chó bị đá văng khi cắn chúng tôi, hỏi con nai bị săn đuổi khi di chuyển đồi núi...”. Người Mường làm ruộng 2 mùa bằng cách đốn và đốt rừng – gạo và cần sa. Gạo để ăn và cần sa làm thuốc và bán lấy lời.
Tướng Vang Pao sinh năm 1932 tại thôn làng Nong Let bên Lào. Năm 13 tuổi ông làm thông dịch viên cho quân đội viễn chinh Pháp trong cuộc chiến chống Nhật. Hai năm sau ông chống lại Việt Minh xâm nhập vào Hạ Lào trong chiến tranh Đông Dương. Ông được đưa vào Sài Gòn học khóa huấn luyện chỉ huy quân đội và được mang cấp bậc cao nhất của người Mường trong Quân đội Không quân Hoàng gia Lào. Năm 1954 ông mang một tiểu đoàn gồm 850 lính Mường qua Điện Biên Phủ để hỗ trợ giúp Pháp đánh lại Việt Minh nhưng không thành. 
Người Mường được sắp vào hàng ngũ quân đội dự bị (surrogate army) đầu tiên bởi một đại tá Pháp tên Roger Trinquier, cũng là người phải đối đầu với cuộc khủng hoảng tài chính Pháp bằng một hoạt động kín đáo và gian xảo với hơn một mục đích – tiền thu thập từ ma túy và ông cho biết tiếp là:” nuôi quân du kích Mường bằng đồng tiền hái ra bằng việc buôn bán ma túy”. Ma túy được chuyên chở vào Sài gòn bằng máy bay DC-3 cho đại úy St.Jacques để phân phối tại đây. Sau đó tiền thu nhập được chuyển vào tài khoản để nuôi quân du kích Mường.
Ông Trinquier giễu cợt việc buôn bán này như sau: ”hoạt động được kiểm soát 100% mặc dù nó vẫn là phi pháp”. Trong khi đó đại tá Antoine Savani đảm nhiệm về mặt marketing, ông cũng là chef phòng Nhì Sài gòn gốc xuất xứ từ đảo Corse. Ông có liên hệ mật thiết với công đoàn ma túy Marseilles. Ông Savani giúp đỡ thành lập đội quân Bình Xuyên trong rừng Tràm phía nam Sài gòn với cơ sở lab chế biến ma túy, điều khiển sào huyệt ma túy và bán phần thừa ma túy cho công đoàn đảo Corse. Đây là chiến dịch X từ năm 1948 đến 1954. Thời đệ nhất Cộng Hòa Việt nam ông Ngô đình Nhu, em ruột TT Diệm chỉ huy chiến dịch buôn lậu ma túy để gây quỹ trả lương cho việc bảo vệ an ninh ông Diệm. Sau khi hai ông TT Diệm và Nhu bị ám sát sau cuộc đảo chánh 1963, thiếu tướng tư lệnh không quân Nguyễn C.K (Air Marshall), sau này là phó TT VNCH tiếp tục việc vận chuyển ma túy từ Long Tieng về Đà Nẳng Việt nam bằng máy bay Không quân VNCH. Một nhân viên cao cấp CIA Sam Mustard đã tuyên thệ lời khai này trước Quốc Hội Hoa Kỳ năm 1968[5].
Theo Liên Hiệp Quốc thì việc sản xuất ma túy vùng Tam Giác Vàng tăng mạnh từ năm 1980 đến giữ thập niên 90. Lào sản xuất 400 tấn thuốc phiện năm 1989 và Miến Điện 1,430 tấn hàng năm. Việc giải thích tại sao sự sản xuất tăng mạnh thời kỳ hổn loạn chính trị này (1962-2008) vì Miến Điện độc lập được cai trị bở đảng CS Miến CPB (Communist Party of Burma được hỗ trợ bởi Trung Quốc) và vài nhóm du kích địa phương chiếm giữ vùng Wa và Kokang. Đồng thời năm 1980 với sự nổi dậy của nhóm du kích Mường MTA (Khun sa’a Mong Tai Army) giành quyền kiểm soát vùng Shan và đến khi Trung quốc cắt mọi hỗ trợ tài chính cho đảng CS Miến CPB thì họ chỉ còn tồn tại nhờ buôn bán ma túy thuốc phiện. Sau 1997 việc sản xuất ma túy vùng Tam Giác Vàng thụt giảm một cách đáng kể. Lý do thiên giảm việc sản xuất ma túy là từ hội đồng các bộ trưởng xứ ASEAN gồm các quốc gia Đông Nam Á muốn cải thiện đời sống xứ họ nên đồng tâm ra luật gắt gao để chấm dứt việc sản xuất thuốc phiện vào năm 2020. Nhưng mục tiêu ấy hai năm sau đó bị sửa lần nữa là 2015. Trên thực tế sự trồng trọt cần sa và anh túc giảm đáng kể bên Lào và chỉ bán trong nội địa. Trong khi đó ở Miến Điện vì chính trị bất ổn và sự xung đột của nhiều nhóm chính trị và chính quyền làm tăng thêm sản xuất ma túy thay vì thiên giảm như bên Lào và Thái Lan. Mặc khác, nhiều tường trình quốc tế cho biết quân lính có lệnh chính quyền truy nã người buôn lậu và trồng trọt cần sa bị mua chuột cho nên họ nhắm mắt để yên cho việc trao đổi phi pháp tiếp tục diễn ra trên đất Miến. Năm 2007 Hoa Kỳ phản đối và yêu cầu Miến Điện tăng cường kiểm soát gắt gao ma túy và cần sa, điều tra truy tìm nguồn gốc sự bất tuân lệnh của nhân viên thi hành nhiệm vụ để tuân theo hiệp định của Liên Hiệp Quốc về việc bãi bỏ thuốc phiện và ma túy.


Đa số ma túy nhập vào USA bằng máy bay hàng không thương mại chuyên chở báo chí Hong Kong và USA vào Hawaii và California. Lúc đầu dân buôn ma túy gặp rất nhiều khó khăn để bán ra dân tiêu thụ. Nhưng trong những năm 1970 những dân buôn lậu Á châu bị ở tù sau khi thả ra họ bắt đường dây liên lạc với nhóm buôn lậu ma túy. Sự liên lạc tuyệt vời này giúp bành trướng thị trường ma túy ở USA. Một đường giây buôn ma túy khác tên Triads do người Trung Hoa tên Tong đãm nhiệm để thiết lập đường giây phân phát và bán lẻ ra dân nghiện ma túy bên USA và Hong Kong. Những nhóm Á châu này trở nên mafia ma túy quan trọng trong đất Mỹ. Đa số hoạt động cũ những nhóm này trong những đô thị lớn như  New York, Los Angeles, Seattle, San Francisco và Toronto. Hơn 90% ma túy Tam Giác Vàng được sản xuất từ vùng đông bắc Miến Điện dưới quyền kiểm soát của 2 nhóm đảng Cộng sản Miến (Communist Party of Burma - CPB). Quân đội Shan (Shan United Army-SUA) và những nhóm địa phương khác như NDAA(New Democratic Alliance Army), MNDAA (Myamar National Democratic Alliance Army) và UWSA(United Wa State Army). Hai nhóm này có thời làm vang động nổi loạn vì tranh chấp chính trị xứ này nhưng dần về sau họ tập trung thực lực trong việc sản xuất và buôn lậu thuốc phiện đê gây quỹ nuôi quân du kích. Nhóm BCP chuyên buôn lậu ma túy vùng Đông Nam Á trong khi nhóm SUA có mục đích bảo vệ lab chế biến ma túy và phân phát buôn ma túy cho những nhóm khác. Những năm sau đó nhóm CPB cũng có lab chế biến ma túy và phân phát buôn ma túy và xảy ra tranh chấp với nhóm SUA. Những nhóm này đạt thỏa thuận ngưng bắn vào những năm 1997 (NDAA in Mongla), 2003 (MNDAA in Kolang) và 2005 (UWSA in Wa) và được gọi là những nhóm “tạm ngưng bắn” để chia lãnh thổ cai trị Miến Điện.
Cuối năm 2007 chính quyền Miến CPB ra lệnh cấm trồng trọt cần sa và anh túc làm nông dân những vùng cao nguyên Miến và Lào bị ảnh hưởng kinh tế, thuốc men thiếu kém trầm trọng. Vì ngày xưa những nông dân này sống vùng cao nguyên chỉ trồng trọt cần sa và anh túc là phương tiện kinh tế chính để bán kiếm lời, để cho con cái ăn học, lo sức khỏe và  mua sắm dụng cụ gia đình. Sau việc cấm vận một số nông dân chuyển đổi qua trồng lúa và cây ăn trái nhưng không đủ sống vì đa số đất đai nằm trền sườn núi cao nguyên hay thung lũng khó khai thác, một số khác xin di chuyển về miền đồng bằng và đổi nghề sinh sống. Sau năm 1994 Trung quốc bắt đầu đầu tư vào Lào để làm vườn cao su thay chỗ cho anh túc và cần sa. Tương tự những nhóm “tạm ngưng bắn” cũng khởi công tuyên truyền việc trồng cao su và trà để thay thế thuốc phiện, nhưng chỉ ở bang Wa là có gặt hái hiệu quả về kinh tế. Vấn đề trở ngại chính yếu vẫn là đường xá xa xôi và hiểm trở.
Sau những năm 1980 chính phủ VN, Lào, Miến Điện và Thái Lan hợp tác tăng cường mạnh hoạt động chiến thuật càn quét ma túy nên lượng ma túy đổ vào Mỹ giảm một cách đáng kể. Sự sản xuất tột đỉnh của vùng Tam Giác Vàng trong những năm 1997-98, cung cấp một phần ba ma túy thế giới và 10 năm sau đó giảm chỉ còn 5% năm 2008. Vì thế chữ Tam Giác Vàng ngày nay không còn đồng nghĩa với cần sa ma túy nữa.
Ma túy biểu hiệu cho sự trù phú hay nghèo nàn, sự sung sướng hay hạ cấp, tham nhũng hay độc lập bên Lào (theo tướng Tuan Shi-Wen của quân du kích quốc gia KMT).
Hoạt động ma túy dần dần chuyển hướng và chuyển sang khu Lưỡi Liềm Vàng (Golden Crescent) ở biên giới Afghanistan, Pakistan và Iran.
Trong thập niên vừa qua vùng đông Nam Á, nhất là những vùng phụ cận của sông Cửu Long phải đối đầu với một tệ nạn xã hội mới là việc hút và chích chất gây nghiện (ATS hay amphetamine-type-stimulant), đặc biệt là meth tức methamphetamine (meth) được bán dưới dạng thuốc viên (yaba/yama) hay tinh thể pha lê crystal (ice/shabu). Đây là tệ nạn xã hội chuyển thể từ ma túy về chất gây nghiện. Chất gây nghiện được chế đầu tiên bởi nhà hóa học Nhật tên Nagayoshi Nagai năm 1893. Chất gây nghiện nhân tạo được chế từ hóa chất ephedrine, methamphetamine từ safrole trong lab. Ephedrine là cây thực vật trồng nhiều ở Trung Quốc dùng trị ho và khan cổ trong khi cây safrole được chế biến như gia vị thơm cho savon, nước hoa và thuốc tẩy. Trong thế chiến thứ hai safrole được trồng nhiều ở Nhật và Đài Loan, sau đó chuyển sang Ba Tây (Brasil). Sau năm 1990, thì Trung Quốc dẩn đầu việc trồng trọt safrole và Việt Nam bất đầu nhập cuộc [5] p.66. Năm 1919, một hóa học gia khác cũng người Nhật tên Akira Ogata phát minh ra viên tinh thể trong chất gây nghiện meth. Nước Nhật là quốc gia đầu tiên sau thế chiến thứ hai thí nghiệm và lạm dụng chất gây nghiện một cách rộng rãi. Meth hay ATS được dùng trong thế chiến thứ hai cho phi công, binh sỹ và nhân công Nhật trong công xưởng để kích thích tăng sản xuất và quân đội để kích thích sự can đãm. Sau khi chiến tranh chấm dứt thì việc sản xuất bạch phiến bị dư thừa nên được bán rộng rãi cho công chúng Nhật. Năm 1949 chính phủ Nhật ra lệnh cấm chế chất gây nghiện dưới dạng viên hoặc bột, nhưng thuốc nước chích thì ngoại lệ. Từ đó thuốc chích chất gây nghiện (Philopon) xuất hiện đầy dẫy trên thị trường Nhật vì được bán trong tiệm thuốc tây mà không cần toa bác sỹ.  Gần đây Nhật bản ra lệnh cấm sản xuất chất gây nghiện nội địa từ 1950 cho nên hầu hết meth được sản xuất từ Đại hàn, Đài Loan, Hong Kong và Trung quốc và được nhập vào Nhật bằng đường buôn lậu do nhóm tổ chức tội phạm Yakuza. Những năm 1970, đánh dấu làn sóng bệnh nghiền bạch phiến của đợt sống mới thanh niên học sinh ra đời ở Nhật cùng với nền kinh tế thịnh vượng nhất và xảy ra liên tiếp cho đến năm 1997.  Theo thống kê năm 1997 thì có trên 600 000 vụ bắt giữ về hút chất gây nghiện ở Nhật mà đa số dùng cách tiêm chích. Năm 2001 con số này lên đến hơn 2.18 triệu người bị bắt giử và con số này vẫn duy trì và những giảm đi một ít. Nước Nhật vẫn là thị trường tiêu thụ chất gây nghiện (meth) lớn nhất khu vực đông Nam Á.
Từ năm 1970 Thái là quốc gia tiên dùng chất gây nghiện nhiều nhất trên thế giới. Liền những năm sau đó chính phủ Thái ra lệnh cấm dùng chất gây nghiện vì có quá nhiều tai nạn xe cộ xảy ra vì các tài xế xe hàng vận tải và commuter bus dùng liều methamphetamine để trị bệnh ngủ rũ. Từ đó các con buôn đổi chiến thuật bằng cách nhập cảng methamphetamine từ Âu châu như một loại Âu dược gây mê. Theo thống kê năm 2006 ba nước Miến Thái và Trung quốc bắt giử hơn 40 triệu viên methamphetamine mà phân nữa là ở Miến điện. Khi luật cấm ra càng gắt gao thì số người hút bạch phiến càng gia tăng. Đến năm 1990, những lò chế bạch phiến chuyển dần từ thành thị về vùng bắc Thái lan. Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra ở Đông Nam Á năm 1997 thì dân thất nghiệp gia tăng vì thế để dễ kiếm tiền sinh sống, việc bán bạch phiện là một phương tiện lý tưởng cho dân thất nghiệp để dễ kiếm lợi. Năm 2003, thủ tướng chính phủ Thái Thaksin Shinawatra ban hành chiến dịch chống ma túy với mục đích làm giảm một cách hữu hiệu tệ nạn xã hội này. Thủ tướng Thaksin Shinawatra bị đảo chính tháng 9 năm 2006 bởi một hội đồng chỉnh đốn gồm những sĩ quan cao cấp đãm nhiệm. Sau đó có nhiều cuộc chỉnh đốn, truy tầm cho thấy 2,819 nạn nhân thiệt mạng trong khoảng tháng hai đến tháng tư 2003, một cách bí mật mà họ tình nghi là có liên hệ đến buôn lậu ma túy. Sau tháng 11 năm 2008, chính phủ mới Thái lại tiếp tục hô hào chống ma túy trên đất Thái.  Một hình thức buôn lâu bạch phiến tinh thể bắt đầu bành trướng mạnh ở thanh thiếu niên Thái cho đến ngày nay. Mà methamphetamine tinh thể đều nhập lậu từ Miến Điện. Tệ nạn ma túy và methamphetamine nơi thanh niên ở Miến, Thái và Trung quốc (Côn Minh) gây ra hơn nửa triệu nạn nhân mắc bệnh HIV/AIDS theo thống kê của WHO (World Health Oraganization). Năm 2007 có hơn 27,000 người thiệt mạng vì bện AIDS bên Miến. Hội Bác sĩ Vô biên giới đang có chương trinh giúp đở nạn nhan HIV/AIDS để chữa trị như antiretroviral Therapy ở Miến và Thái Lan. Đông Nam Á đang trải qua một sự chuyển mình sâu sắc. Lệnh bãi bỏ ma túy cần sa vùng Tam Giác Vàng gây khủng hoảng kinh tế cho hơn trăm ngàn nông dân, nơi mà cần sa thuốc phiện nỗi tiến hơn một thế kỷ đang chuyển từ từ sang methamphetamine rồi chế tạo thuốc chích  và thuốc gây mê. Hiệp định các nước Đông Nam Á ASEAN đặt chỉ tiêu là năm 2015 sẽ không còn ma túy (drug free). Các chính quyền đang áp dụng mọi cơ chế để diệt tận gốc tệ nạn ma túy bằng mọi cách. Thập niên vừa qua cho thấy Thái Lan và Việt Nam việc sản xuất ma túy hầu như ngừng hẳn, riêng Lào và Miến cũng đã thành công trong việc triệt phá các cánh đồng thuốc phiện trong việc trồng trọt anh túc. Việc sút giảm ma túy vùng Tam Giác Vàng không làm giảm sự sản xuất ma túy trên thế giới. Trái lại việc sản xuất ma túy tăng vọt ở Afghanistan (Lưởi Liềm vàng)… 
Lưởi Liềm Vàng (Golden Crescent) – Sự phát triển về ma túy ở khu Lưởi Liềm Vàng xuất khẩu vào Hoa Kỳ do nhiều điều kiện. Thứ nhất cần sa được trồng ở Afghanistan và Pakistan và được chuyển sang Iran đế biến thành thuốc phiện vì xứ này có hơn một triệu dân nghiền thuốc phiện. Sau những năm 1980, nền chính trị Iran lộn xộn và xã hội bất ổn làm tăng cường việc sản xuất cần sa nội địa và cắt giảm việc nhập cần sa từ Afghanistan và Pakistan.  Việc buôn bán cần sa bị đình chỉ vĩnh viễn năm 1979 khi Afghanistan bị Nga xâm chiếm, các đường dây buôn lậu qua biên giới Iran đều bị chặn đứng. Trong khi việc buôn bán và tiêu thụ thuốc phiện bên Iran giảm đáng kể thì việc sản xuất cần sa tăng lên bội phần ở Afghanistan và Pakistan. Ma túy thuốc phiện được chế biến trong những lab ở biên giới Tây Bắc Pakistan và Nangarhai của Afghanistan. Thuốc phiện chế biến tại đây được chuyển vào Iran và xứ khác bằng ngã Baluchistan, bằng đường biển qua Karachi (thủ đô Pakistan) và Bombay (Mumbai ngày nay) và qua ngã Vịnh Arabian để xuất khẩu vàu Âu châu.
Hàng hóa ma túy nhập vào Mỹ bằng nhiều phương tiện hợp pháp như vận tải qua đường biển và hàng không từ hàng vải xuất khẩu, dụng cụ thể thao chế từ Pakistan (tennis & soccer balls).  Thỉnh thoảng hàng thuốc phiện cũng được chuyển lậu qua bưu điện cấp chở bằng những chuyến bay tư đặc biệt. Từ Pakistan thuốc phiện được giấu kỹ trong những kiên bào chí và sách vở để nhập vào Hoa Kỳ. Nhiều nhóm tổ chức buôn lậu thuốc phiện từ khu Lưởi Liềm Vàng hoạt động từ nhiều quốc gia – Pakistani, Ấn, Lebanese, Tây Phi, v.v….
Dân Pakistani không có nhiều hệ thống phức tạp phân phối nhiều bên Mỹ cho nên họ chỉ nhờ vào bà con thân thuộc để phân phối thuốc phiện từ vùng Lưởi liềm vàng. Đặc biệt vùng đông bắc Mỹ như New York và Detroit và một ít vùng Los Angeles. Theo lời khai của một người Pakistani làm kỹ sư có liên hệ đến ma túy trước Commission thì việc chuyển và buôn lậu ma túy được diễn ra như sau : một người bà con của anh ở Lahore, Pakistan gửi một kiện hành lý bưu điện đến phi trường JFK New York như « in transit » để đến nơi cuối là Toronto cho một người bà con sống tại đây. Thùng hành lỳ có 2 đáy để chứa nha phiến. Vì là gửi hành lý với chữ « in transit » cho nên nhân viên hải quan cũng lờ đi và chuyển đi Toronto. Cơ quan hải quan Canadian cũng không khó khăn gì trong việc cho nhập hành lỳ bình thường khi có thân nhân địa phương đến nhận. Bên Canada bọn buôn lậu ma túy chuyển hàng mỗi ba đến sáu tháng như vậy nhân viên quan hải quan ít nghi ngờ hơn. Từ Toronto họ phân phối một phần hàng tiêu thụ nội địa, phần còn lại được chuyển đi Mỹ bằng đường buôn lậu qua ngã địa phận dành riêng cho dân Mọi da đỏ (Indian reserve) để dễ dàng chuyển đến những tỉnh lớn như Seattle, San Francisco. New York và Las Vegas. Tất cả liên hệ buôn lậu là những bà con dòng họ có sự tin tưởng cao.
Một phần ma túy sản xuất từ Lưởi liềm vàng được di chuyển sang Lebanon để nhập vào Mỹ. Đa phần ma túy xuất cảng qua Mỹ từ Lebanon từ phi trường Damacus bà Beirut. Bên Hoa Kỳ hoạt động ma túy thường đãm nhiệm bời dân Mỹ gốc Lebanese. Hệ thống này hoạt động vùng đông bắc Mỹ. Cũng như những hệ thống phân phối ma túy khác thông thường hàng được di chuyển giữa Toronto và phi trường Damacus & Beirut. Từ Toronto họ có đường dây di chuyển qua Houston, Detroit và New York dấu trong những kiện hàng thương mại. Số tiền gặt  hái trong những vụ buôn ma túy này được rửa ở nhà băng Pittsburgh Pennsylvania.
Những hệ thống khác di chuyển ma túy khác từ Lưởi liềm vàng đến phi trường JFK New York bằng đường bay cargo chở thư từ cấp tốc từ Bombay, Karachi và Nigeria Nam Phi qua trạm trung gian Toronto và Paris hay London. Ma túy được dấu trong kiện hàng hay vali có hai lớp. Tương tự, tại New York hàng được phân phối qua một hay hai nơi vùng đông bắc Mỹ như New York và Washington DC. Theo Cơ quan vũ trang chống ma túy DEA (Drug Enforcement Agency) thì cộng đồng Nigeria ở Mỹ đều có dính líu vào những vụ buôn ma túy trên đất Mỹ. Tiền lợi nhuận từ ma túy được rửa trong những nhà băng tại Hoa Kỳ và Anh quốc.
Hệ thống khác cũng không kém tầm quan trọng của nó là Charles Green vào những năm 1970 và tiếp nối sau đó bởi Frank Matthew trong nhóm LCN từ Sicily – Ý. Năm 1971 Leroy Nicky Barnes  tiếp tục sự nghiệp của Matthew và thành lập tổ hợp ma túy Council độc quyền buôn bán ma túy và thuốc phiền vùng New York, Pennsylvania và Canada. Nguồn ma túy mà Barnes phân phối xuất phát từ LCN (mafia Sicily) tên Natty Madonna cũng là thành viên của tổ hợp ma túy Council. Tổ hợp này hoạt động mạnh mẽ từ 1972-1976.
Kết luận:
Tam Giác Vàng nhìn ở bề ngoài thì giờ đây trở nên khá tĩnh lặng. Nhiều cánh đồng trồng cây anh túc đã được chuyển sang trồng trà, cà phê, theo chủ trương của chính phủ 3 nước Thái, Myanmar, Lào… Nhưng theo báo chí thì thực ra Tam Giác Vàng không hề yên ổn như thế, thuốc phiện quá được giá trong khi nông sản giá rẻ như bèo nên cây anh túc vẫn được trồng âm ỉ ở nhiều nơi. Nếu nhìn vào ống dòm chúng ta có thể nhìn thấy xa xa những cánh đồng trồng cây thuốc phiện mượt xanh nằm sâu trong các triền đồi. Nơi mà vẫn có những lãnh chúa tiếp tục công việc sản xuất thứ bột trắng chết người và sẵn sàng sống chết để bảo vệ khi có ai đặt chân đến truy quét. Hiện nay, thỉnh thoảng vẫn xảy ra những cuộc đụng độ giữa quân đội với “đội quân” xâm nhập biên giới lậu buôn cần sa. Cứ vài tháng, chính quyền Thái lan lại phải tổ chức những đợt truy quét ma túy liên tục. Trong những đợt truy quét như vậy, lực lượng đặc nhiệm biên giới là tiên phong và sẵn sàng chấp nhận bỏ mạng, mất xác nơi rừng núi trong cuộc chiến chống ma túy này. Vùng Tam Giác Vàng như đã thay da đổi thịt, phát triển từng ngày. Cách đó vài chục cây số, giữa những cánh rừng bạt ngàn và đồi núi treo leo, hiểm trở, những đoàn lừa chở thuốc phiện và các tay súng vũ trang vẫn âm thầm hoạt động. Tam Giác Vàng hiện nay vẫn còn hai bộ mặt với những đợt sóng ngầm âm ỉ bên trong…
Sau nhiều thập niên trồng anh túc, sản xuất ma túy và thuốc phiện, ngày nay hoạt động ma túy vùng Tam Giác Vàng giảm đi rõ rệt và hầu như đi vào huyền thoại. Nhưng hậu quả của nó còn để lại cho dân tộc thiểu số ở vùng này như tỉ lệ mắc bệnh HIV/AIDS cao, trẻ em thanh thiến niên nghiện ngập, dân tình nghèo khó thiếu thuốc men trị bệnh. Các nước trên thế phải đồng lòng tiếp tay trong việc làm giảm tệ nạn ma túy. Các nước giàu có nên giúp đỡ nhiều hơn những cộng đồng vùng biên giới Tam Giác Vàng một cách cụ thể. Những nạn nhân HIV/AIDS gây ra bởi ma túy cần được giáo dục rộng rãi cho quần chúng thế giới. Trách nhiệm và việc kiểm soát của Trung Quốc ở miền biên giới Tam Giác Vàng chưa đủ.  Chính quyền TQ đang đầu tư ồ ạt vào Miến về trồng trọt cao su như một sự thay thế cần sa anh túc đòi hỏi thời gian lâu dài.  Nếu Trung quốc thật sự quan tâm về ma túy vùng Tam Giác Vàng thì họ nên nghĩ đến những công trình thực tế hữu ích cho cộng đồng thiểu số đang sinh sống tại đây. Sự tồn tại và nghèo khó của những nông dân thiểu số sống ở biên giới Lào và Miến Điện là vấn đề to lớn mà các chính phủ chưa tìm ra lối thoát cho họ. Vấn đề cá biệt văn hóa rất quan trọng xem ra chính quyền TQ chưa thấu hiểu tầm quan trọng của nó. Cũng như người ta chưa thấm nhầm bài học quá khứ sẽ chạm phải lầm lỗi trong tương lai, giống như người từ chối học kinh nghiệm lầm lỡ của kẻ khác vậy….
  
Phỏng theo bài tường trình Transnational Institute – Withdrawal Symptom in Golden Triangle by Tom Kramer, Martin & Jelsma Tom Blickman - Amsterdam January 2009
Phúc Nguyễn
Xin mời xem tiếp phần 3
Tham Khảo:
[1] http://www.victorianweb.org/history/empire/opiumwars/opiumwars1.html
[2] http://www.druglibrary.org/schaffer/govpubs/amhab/amhabc3.htm
[3] http://shanland.mongloi.org/index.php?option=com_content&view=article&id=3485:drugs-and-cultural-survival-in-the-golden-triangle-&catid=115:opinions&Itemid=308
[4] http://www.geopium.org/
[5] The Whiteout: The CIA, Drugs and the Press by Alexander Cockburn, Jeffrey St.Clair. The Opium war p. 235-250
[6]. http://www.tni.org/sites/www.tni.org/files/download/withdrawal.pdf
Đọc tiếp →

Friday, October 28, 2011

CHIẾN TRANH MA TÚY Ở COLOMBIA


Colombia ta liên tưởng ngay đến du kích quân, nha phiến, thuốc phiện, nội loạn, bắt cóc và khủng bố, v.v.v... Tại sao Colombia đồng nghĩa với những hoạt động phi pháp như thế. Chúng ta thử tìm hiểu nguồn gốc lịch sử, chính trị và văn hóa về Colombia hầu mong hiểu được phần nào nội bộ phức tạp của xứ sở thuốc phiện và nha phiến này.



1.   Sơ lược về Colombia

Những nhà thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu khám phá vùng đất ven biển Caribe vào năm 1500 dưới sự lãnh đạo của Rodrigo de Bastidas. Christopher Columbus đã tới gần Caribe năm 1502. Năm 1508, Vasco Nuñez de Balboa bắt đầu chinh phục lãnh thổ này qua vùng Urabá. Năm 1513, ông cũng là người Châu Âu đầu tiên khám phá Thái Bình Dương mà ông gọi là Mar del Sur (hay "Biển phương Nam"), con đường trên thực tế sẽ đưa những kẻ chinh phục Tây Ban Nha tới Peru và Chile. Năm 1525, thành phố Châu Âu đầu tiên tại lục địa Châu Mỹ được thành lập, là Santa María la Antigua del Darién tại Khu Chocó ngày nay. Dân số chủ yếu sống trên vùng này là hàng trăm bộ tộc Chibchan và "Karib", hiện được gọi là dân tộc Caribe, và người Tây Ban Nha đã dùng chiến tranh để chinh phục họ, bệnh dịch, công cuộc khai thác và chính cuộc chinh phục này đã đưa lại một thảm họa về nhân chủng làm giảm sút số lượng người bản xứ. Ở thế kỷ mười sáu, người Châu Âu bắt đầu đưa nô lệ từ Châu Phi tới.
Francisco de Paula Santander, Simón Bolivar và những anh hùng khác mang lại nền độc lập cho Colombia tại Hội nghị Cúcuta. Từ đầu những giai đoạn Chinh phục và Thuộc địa, đã có nhiều phong trào phản kháng chống lại ách cai trị Tây Ban Nha, đa số chúng đều bị đàn áp hay quá yếu ớt để có thể thay đổi thế lực. Phong trào phản kháng cuối cùng, với mục tiêu đòi độc lập từ Tây Ban Nha, nổ ra khoảng năm 1810, sau khi St. Domingue (Haiti ngày nay)giành độc lập năm 1804, và nước này chỉ có thể cung cấp sự hỗ trợ nhỏ nhoi cho những lãnh đạo phong trào là: Simón Bolívar và Francisco de Paula Santander. Simón Bolívar đã trở thành tổng thống/phó tổng thống đầu tiên của Colombia và khi Simón Bolívar rút lui, Santander đã trở thành tổng thống thứ hai của Colombia. Cuộc nổi dậy cuối cùng đã giành thắng lợi năm 1819 khi lãnh thổ Phó vương New Granada trở thành nhà nước Cộng hòa Đại Colombia được tổ chức thành một Liên minh cùng Ecuador và Venezuela (Panama từng là một phần của Colombia).



Sự chia rẽ chính trị và lãnh thổ trong nội bộ đã dẫn tới sự ly khai của Venezuela và Quito (Ecuador ngày nay) năm 1830. Ở thời điểm này, cái gọi là "Khu Cundinamarca" đã chấp nhận cái tên "Nueva Granada", và giữ nó cho tới tận năm 1856 khi nó trở thành "Confederación Granadina" (Liên bang Grenadine). Sau một cuộc nội chiến kéo dài hai năm,  năm 1863 "Liên bang Colombia" được thành lập và tồn tại tới năm 1886, khi cuối cùng đất nước này trở thành Cộng hòa Colombia. Sự chia rẽ nội bộ tiếp tục diễn ra giữa các lực lượng chính trị lưỡng đảng, thỉnh thoảng gây ra những cuộc nội chiến rất đẫm máu, nổi bật nhất là cuộc nội chiến nghìn ngày (1899 - 1902) cùng với những ý đồ của Mỹ nhằm thiết lập ảnh hưởng trong vùng (đặc biệt trong việc xây dựng và quản lý Kênh đào Panama) đã dẫn tới sự ly khai của Khu Panama năm 1903 và lãnh thổ này đã trở thành một quốc gia. Colombia sa lầy vào cuộc chiến tranh kéo dài một năm với Peru về tranh chấp lãnh thổ liên quan tới Khu Amazonas và thủ phủ Leticia của nó. Một thời gian ngắn sau đó, Colombia có nền chính trị khá ổn định, và bị ngắt quãng bởi một cuộc xung đột đẫm máu xảy ra trong khoảng thời gian giữa cuối thập kỷ 1948, một giai đoạn được gọi là La Violencia ("Bạo lực"). Nguyên nhân là sự căng thẳng gia tăng giữa hai đảng chính trị hàng đầu, cuối cùng đã bùng phát thành bạo lực sau vụ ám sát ứng cử viên Tổng thống Tự do Jorge Eliécer Gaitán ngày 9 tháng 4 năm 1948. Vụ ám sát này đã gây ra những cuộc bạo động tại Bogotá và được gọi là El Bogotazo, tình trạng bạo lực trong những cuộc bạo động lan tràn khắp đất nước và làm thiệt mạng ít nhất 180,000 người Colombia. Từ năm 1953 tới 1964 bạo lực giữa hai đảng chính trị giảm bớt thứ nhất bởi Tổng thống Gustavo Rojas Pinilla đã mất chức Tổng thống Colombia trong một cuộc đảo chính, cuộc đàm phán với phe du kích, và sự xuất hiện của hội đồng quân sự của Tướng Gabriel París Gordillo. Sau khi Rojas đã mất chức, hai đảng chính trị Đảng Bảo thủ Colombia và Đảng Tự do Colombia đã đồng ý thành lập một "Mặt trận Quốc gia," theo đó hai đảng Tự do (Liberal) và Bảo thủ (Conservative) sẽ cùng điều hành đất nước. Chức tổng thống sẽ được thay thế lần lượt giữa hai đảng với nhiệm kỳ 4 năm trong vòng 16 năm tiếp diễn; hai đảng sẽ chia sẻ quyền lực tương đương ở mọi chức vụ nhà nước. Mặt trận Quốc gia đã chấm dứt "La Violencia", và chính phủ Mặt trận Quốc gia nỗ lực tiến hành các cuộc cải cách kinh tế, xã hội sâu rộng cùng với sự hợp tác của Liên minh vì Tiến bộ. Cuối cùng, những mâu thuẫn giữa các chính quyền Bảo thủ và Tự do nối tiếp nhau khiến kết quả không được như ý muốn. Dù có những tiến bộ ở một số lĩnh vực, nhiều vấn đề bất công xã hội và chính trị tiếp diễn và các nhóm du kích như FARC (Fuerzas Armadas Revolucionarias de Colombia – Revolutionary Armed Forces of Colombia), ELN (Ejercito de Liberacion – National Liberation Army) và M-19 chính thức thành lập chiến đấu chống chính phủ và các cơ quan chính trị với những ảnh hưởng từ các học thuyết của cuộc Chiến tranh lạnh. Cuối thập niên 1970 và trong suốt thập niên 1980, 1990 những tổ hợp ma tuý (drug cartel) giàu mạnh và đầy tính bạo lực xuất hiện, nổi tiếng nhất là Medellín Cartel (dưới sự chỉ huy của Pablo Escobar) và Cali Cartel, trong một giai đoạn đã gây ảnh hưởng tới chính trị, kinh tế và xã hội tại Colombia. Những tổ hợp này cũng đã tài trợ tiền bạc và gây ảnh hưởng tới các nhóm vũ trang bất hợp pháp và phe phái chính trị. Một số bên chống đối lại đã liên minh với các nhóm du kích (guerrilla) tạo ra hay gây ảnh hưởng tới các nhóm bán quân sự (paramilitary).
Để thay thế hiến pháp năm 1886 trước đó, một hiến pháp mới đã được phê chuẩn năm 1991 (Hiến pháp Colombia năm 1991), sau khi được Hội đồng Lập hiến Colombia soạn thảo. Hiến pháp được thêm vào những điều khoản quan trọng về chính trị, sắc tộc, nhân quyền và bình đẳng nam nữ, chúng sẽ dần được thực hiện, dù tình trạng phát triển không đều, tranh cãi và tụt hậu vẫn tồn tại. Hiến pháp mới cũng ngăn cấm hành động dẫn độ người mang quốc tịch Colombia sang Hoa Kỳ, các tổ hợp ma túy đã tiến hành vận động hành lanh tại Nghị viện và đưa ra một chiến dịch đe dọa vũ lực nhằm ngăn chặn sự phê chuẩn hành động dẫn độ. Nhiều cuộc tấn công khủng bố (terrorism) và hành quyết (extortion) kiểu mafia đã diễn ra. Các tổ hợp ma túy cũng đã tìm cách gây ảnh hưởng tới chính phủ cũng như cơ cấu chính trị Colombia, như trường hợp vụ sandal Quy trình 8,000.
Trong những thập kỷ gần đây nước này tiếp tục gặp phải khó khăn từ ảnh hưởng của các hoạt động buôn bán thuốc phiện và những cuộc chiến tranh du kích như của FARC, và các nhóm bán quân sự như AUC (Fuerza de Autodefensa de Colombia – Colombian Self Defense Forces) hiện đã được giải ngũ nhưng một số thành viên vẫn còn hoạt động, cùng với các phe nhóm nhỏ khác đã tham dự vào cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Các nhóm võ trang này trên danh  nghĩa là du kích quân nhưng trên thực tế họ có nhiệm vụ bảo vệ các vườn cần sa và các lab chế tạo ma túy. Các tổ hợp ma túy giàu mạnh như Cali và North Valley và Medellin cartel đã giúp Colombia cân bằng thương mại bằng cách tạo ra một nguồn thu ngoại tệ lớn và ổn định, chủ yếu là dollar Mỹ. Mặt khác, các thủ lãnh ma túy cũng làm bất ổn định chính phủ. Những cuộc nổi loạn của các nhóm khác nhau dẫn tới tình trạng sử dụng hành động bắt cóc và buôn lậu ma tuý để kiếm tiền hoạt động, chúng thường hoạt động tại các vùng nông thôn rộng lớn và hẻo lánh và thỉnh thoảng có thể gây thiệt hại tới các hệ thống viễn thông và giao thông giữa các vùng. Từ đầu thập niên 1980, những nỗ lực nhằm đàm phán một thỏa thuận giữa chính phủ và các phe phiến loạn khác nhau đã được tiến hành, có trường hợp thành công có trường hợp chỉ một phần phe nổi dậy chịu giải giáp.
Bên cạnh đó, Colombia chú trọng thúc đẩy quan hệ với các nước Mỹ Latin, thúc đẩy liên kết khu vực, từng tham gia tích cực vào các quá trình thương lượng hoà bình giải quyết các cuộc xung đột ở Trung Mỹ. Tuy nhiên, quan hệ với các nước Nam Mỹ, đặc biệt là Ecuador và Venezuela, thời gian qua vẫn căng thẳng, thậm chí gián đoạn sau sự kiện Colombia tấn công lực lượng du kích cánh tả trên lãnh thổ Ecuador (2008), ký thoả thuận quân sự với Mỹ (2009) và tố cáo Venezuela chứa chấp và trợ giúp du kích cánh tả (2009-2010)... Từ khi lên nắm quyền, Chính phủ của Tổng thống Santos bày tỏ thái độ mềm dẻo hơn với các nước láng giềng, nối lại quan hệ ngoại giao với Venezuela và Ecuador bị cắt đứt dưới thời Tổng thống Uribe (tháng 7 năm 2010). Colombia chủ trương đa đạng hoá quan hệ với các khu vực khác trên giới, trong đó có khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Colombia là thành viên của Liên Hợp Quốc, Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mỹ (OEA), hiện đang xin gia nhập APEC. Colombia rõ ràng đã trở nên nổi tiếng về hoạt động sản xuất thuốc phiện trái phép, các vụ bắt cóc và tỷ lệ các vụ giết người. Trong thập niên 1990, nước này đã trở thành nước sản xuất cocaine và các dẫn xuất coca số một thế giới. Ước tính diện tích trồng cây coca năm 2000 là 163 300 hécta (402 782 acres).“Coca cultivation in Andes stabilizes in 2005, farmers need help to find alternative livelihoods”. United Nations Office on Drugs and Crime (20 tháng 6 năm 2006). Truy cập 29 tháng 12 năm 2011, 2006.
2.   Chiến tranh du kích (guerrilla) và nha phiến (Drug War)
Trong những năm 1980, du kích quân FARC bắt cóc, nhiều trường hợp bị thủ tiêu nhiều chủ đồn điền vùng trung và bắc phần của Magdalena Medio. Một trong những nhân vật quan trọng bị giết là cha của Carlos Castano. Sau cái chết của cha họ Castano, các anh em gia đình Castano thành lập và trang bị vũ khí đội tự vệ quân sự đầu tiên dưới quyền quản trị của Sư đoàn Bombona, Brigade XIV. Đội tự vệ này được tài trợ bởi các địa chủ đồn điền. Quân đội Colombia huấn luyện đội quân tự vệ này cho đến năm 1989 thì chính quyền cấm hoạt động vì có liên quan đến việc buôn bán ma túy. Từ đó ông anh cả Fidel Castano chuyển quân tự vệ thành quân chống nổi loạn. Hắn ta cũng ngang nhiên liên lạc với những đoàn bán quân sự và những tổ hợp ma túy. Năm 1985 Fidel gặp gở tổ trưởng của một tổ hợp ma túy Medellin (cartel) ông Pablo Escobar và ông này giới thiệu Fidel cho Jose Rofriguez Gacha là một con buôn ma túy chuyên nghiệp vừa là thành viên chống cộng và thủ trưởng hoạt động quân sự vùng Magdalena Medio. Cả hai ông Fidel Castano và Gacha bắt đầu những phong trào khủng bố nông dân, du kích và ngay cả chính quyền. Năm 1988 chính phủ treo bản án 20 năm tù cho Fidel Castano về tội giết người, khủng bố và buôn lậu ma túy. Đến năm 1994 Fidel vẫn biệt tăm trốn tránh chính quyền thì người em Carlos chính thức thành lập Tổ Tự Vệ AUC – United Self-Defense Forces of Colombia, gồm có 12,000 thành viên.  Tổ chức khủng bố này bành trướng lan ra ngoài vùng phía bắc. Ngày nay những tổ chức bán quân sự như thế ảnh hưởng rất mạnh vùng biên giới giáp ranh với Venezuela và Panama. Tổ chức vũ trang chống ma túy DEA Hoa Kỳ - Drug Enforcement Administration trình lên Thượng nghị Viện Hoa Kỳ năm 1998 như sau: » Castano là biểu dương cho ma túy ở Colombia ». Trong một cuộc phỏng vấn trên đài TV Carlos Castano cho biết rằng việc buôn ma túy tài trợ 70% hoạt động của những nhóm tự vệ bán quân sự AUC.


3.   Tại sao Hoa Kỳ quan tâm nhiều đến Colombia.

Nước Colombia có 43 triệu dân đứng đầu sản xuất 70% ma túy trên thế giới mà 90% ma túy được đưa vào Hoa Kỳ tiêu thụ. Việc buôn bán thuốc phiện ma túy đã làm thiệt mạng 50,000 người mỗi năm. Thiệt hại xã hội, y tế và hành chánh được ước lượng khoảng 160 tỉ US mỗi năm. Liên hệ mậu dịch thương mại giữa hai quốc gia là 11 tỉ hàng năm. Số tổng sản xuất quốc gia GDP là 90 tỉ US với hơn 50% là dân nghèo (lợi tức 2 US$/ngày). Trong khi đó có 2.5 triệu dân Colombian đang sống và làm việc tại Hoa Kỳ.
Từ sau biến cố 9/11 bên Hoa Kỳ thì vấn đề nội bộ Colombia trở nên mối quan tâm đe dọa mới cho thế giới nhất là hệ thống an ninh Hoa Kỳ.
Việc khủng hoảng Colombia lan rộng ra châu Mỹ Latin về đa diện như hành chính, luật pháp và hiến pháp.  Nền kinh tế càng ngày càng xuống dốc, thất nghiệp gia tăng. Nền dân chủ bắt đầu lung lay. Sự đồi trụy của Nam Mỹ Latin có ảnh hưởng đến Hoa Kỳ trên năm phương diện.
Thứ nhất xuất cảng hàng hóa Hoa Kỳ đến vùng Nam Mỹ sẽ bị tê liệt, nhứt là Venezuela và Mễ.  Thứ nhì những nước Mỹ Latin là nguồn cung cấp nhiên liệu dầu hỏa quan trọng cho Hoa Kỳ. Thứ ba Hoa Kỳ cần hổ trợ giúp đở tài chính cho Colombia để chống ngăn chận nhập cảnh lậu của dân Colombian và ma túy vào lảnh thổ Hoa Kỳ, thứ tư ngăn chận ảnh hưởng khủng bố và bắt cóc. Cuối cùng nó sẽ ảnh hưởng đến những chính sách bành trướng dân chủ, dân quyền và Tự do mậu dịch của Hoa Kỳ [11].
Như đã đề cập trong phần một vì chính quyền Colombia được cai trị bởi hai đảng Tự do (Liberal) và Bảo thủ (Conservative) sẽ cùng điều hành đất nước. Chức tổng thống sẽ được thay thế lần lượt giữa hai đảng với nhiệm kỳ 4 năm trong vòng 16 năm tiếp diễn; hai đảng sẽ chia sẻ quyền lực tương đương ở mọi chức vụ nhà nước. Cuối cùng, những mâu thuẫn giữa các chính quyền Bảo thủ và Tự do nối tiếp nhau khiến kết quả không được như ý muốn. Dù có những tiến bộ ở một số lĩnh vực, nhiều vấn đề bất công xã hội và chính trị tiếp diễn và sự nỗi dậy của các nhóm du kích quân như FARC (Fuerzas Armadas Revolucionarias de Colombia – Revolutionary Armed Forces of Colombia – gồm 18,000 thành viên), ELN (Ejercito de Liberacion – National Liberation Army – khoảng 5,000 thành viên) mà nguồn tài trợ cho những nhóm này từ sự buôn bán ma túy, bắt cóc chuộc tiền và hành quyết.
Trên thực tế chính quyền Colombia chỉ kiểm soát 40% dân số vùng thành thị và nông thôn. Vì những vùng biên giới với các nước lân cận như Venezuela, Ecuador, Panama, Brasil và Peru nằm ngoài quyền kiểm soát của chính quyền. Hơn nữa với một hệ thống chính quyền tham nhũng mà nhân viên có thể bị mua chuộc dễ dàng từ những hoạt động bất chính như bắt cóc, buôn bán ma túy/thuốc phiện và hành quyết...
Quân đội yếu kém – với một số quân nhân dưới 100, 000 người để chống chọi với gần 50,000 quân du kích và khủng bố (FARC, UAC và ELN) xem ra quá ít oi. Cả nước Colombia gồm có 6,242 quận (district) mà chỉ có 980 quận nằm dưới quyền kiểm soát của quân đội trong khi 5,300 quân được kiểm soát bởi những nhóm khủng bố. Thí dụ một hảng về khai thác mỏ than vùng Cesar phải trả lương cho quân đội Colombia để bảo vệ an ninh cho họ vì thông thường Colombia không có đủ quân sự để bảo đảm an ninh trật tự mọi lãnh vực
Chính quyền dân sự thiếu năng lực để điều khiển quân sự. Theo tường trình của Quốc hội Hoa Kỳ thì chính quyền dân sự Colombia không có khả năng điều hành quân đội vì họ luôn có thái độ trung lập nghĩ rằng quân đội phải quán luyến hết tất cả vấn đề an ninh quốc gia. Họ không muốn chỉ đạo, cho chỉ thị hay can thiệp vào quân sự vì nghĩ đó nằm ngoài quyền hạn của mình...
Cũng vì thái độ xem thường quân sự cho nên nguồn tài chính cho quốc phòng chỉ có 1.35% của GDP so với trung bình trên 3% cho những quốc gia có chiến tranh như Algeria, Lebanon và Turkey.
Hệ thống luật pháp lỏng lẻo. Theo thống kê thì hơn 90% tội phạm đươc mua chuộc và tha bổng (unpunished). Nếu nhìn con số này chúng ta sẽ rất ngạc nhiên vì Colombia là quốc gia có nhiều thẩm phán (judge) nhất 17 trên 100,000 dân so với Hoa Kỳ là 2 và Âu châu là 3 thẩm phán (judges) cho mỗi 100,000 dân.
Thiếu sự kiểm soát của chính quyền. Số lượng cảnh sát quá ít để bảo vệ an ninh dân chúng. Hiện Colombia có 1,670 cảnh sát cho mỗi triệu dân so với 3,500 trung bình trong các nước văn minh – Pháp, Áo, Hoa Kỳ, Úc Đan Mạch và Canada (2,500) và Uruguay (7,600).
Hệ thống thiếu sót về thu thuế nhập. Lợi tức quốc gia về thu thập thuế má để duy trì chính quyền và xã hội có nhiều khuyết điểm vì quá phức tạp và không cân bằng. Thí dụ Colombia có 43 triệu dân mà chỉ có 4,500 đơn khai thuế mang lại 90% nguồn tài chính quốc gia. Đây là nguồn trốn thuế quan trọng vì có nhiều vùng trồng cần sa và buôn thuốc phiện với lợi tức biểu hiệu 60% nền kinh tế Colombia. Để kiểm soát việc thu thuế phải cần 20,000 nhân viên trong khi hiện thời chỉ có 8, 000. Trong thời cầm quyền của Tổng thống Álvaro Uribe năm 2000 ông ra chỉ thị cấp tốc tăng thu lợi tức bằng cách ra thuế mới 1.2% áp dụng cho người dân có lợi tức trên 65,000$ tiền mặt. Ước lượng có hơn 400,000 người bị đánh thuế mới tăng lợi tức khoảng 800$ triệu được dùng vào ngân sách quốc phòng.
Ngày nay nền kinh tế Colombia hoàn toàn bị tê liệt vì quốc gia này trong 20 năm qua chịu ảnh hưởng nặng nề của việc buôn ma túy và thuốc phiện do các nhóm khủng bố FARC, ELN và những đơn vị bán quân sự AUC gây ra. Những nhóm này khi được thành lập đầu tiên với mục đích bảo về đất đai của các điền chủ nhưng dần dà xảy ra tranh chấp lãnh thổ và tiền bạc về buôn bán thuốc phiện, bắt cóc và hành quyết. Kể từ giữa năm 1980 việc buôn bán ma túy cung cấp tài chính cho hoạt động quân sự chống lại chính quyền và xã hội. Những sự tranh chấp không phải là chiến tranh dân sự mà là được dân chúng tiếp tay. Cả hai nhóm FARC và ELN được từ 2%-4% dân tiếp tay ngược lại UAC có hơn 6%. Ở một số thời điểm Colombia cũng có tỷ lệ các vụ giết người cao nhất thế giới với 62 vụ trên 100,000 dân. Tuy nhiên, trong những năm gần đây con số này đã giảm còn 39 vụ trên 100,000 dân giúp nước này giảm thứ hạng trong Danh sách quốc gia theo tỷ lệ vụ giết người trên dân số ở mức dưới trung bình của Nam Mỹ. Hơn 90% người thiệt mạng là nam giới. Các vùng như Putumayo, Guaviare và Arauca vẫn có tỷ lệ 100 hay hơn nữa vụ giết người trên 100,000 dân năm 2005. Trong khi ấy, tại nước Venezuela láng giềng tỷ lệ này đã tăng từ 13 năm 1991 lên 33 vụ trên 100,000 dân năm 2005 và Ecuador đã tăng từ 11 năm 1991 lên 18 năm 2004.
Trong giai đoạn 1992 - 1999 tổng cộng 5 181 vụ bắt cóc xảy ra tại Colombia, chiếm hai phần ba số vụ được thông báo trên thế giới.Trong năm 2005, 800 vụ bắt cóc được thông báo, (thấp hơn 73% so với năm 2002) trong số đó 35% nạn nhân được giải thoát trong cùng năm. Năm 2005, 18 960 xe cộ bị ăn trộm (giảm 37% so với năm 2002) và 18,111 người bị giết hại (giảm 38% so với năm 2002).
Kế hoạch ORION – Vùng Comuna Trece là nơi cư ngụ của 129 ngàn dân bị kiệm soát bởi tổ hợp ma túy Medellin. Trong vòng 10 năm cho đến 2002 vùng này luôn bị khủng bố, bắt cóc và hành quyết cũng vì lý do thiếu sự kiểm soát của chính quyền. Trong vùng này có đến hơn 10,000 dân lưu manh (gangs) với vũ khí giết người được tài trợ bởi nhóm bán quân sự AUC. Ngày 16 tháng 10 năm 2002  tổng thống Uribe thể hiện chiến dịch ORION ra lệnh cho 3,000 quân lính cố lấy lại khu vực với hổ trợ của trực thăng. Chiến dịch ORION gây ra 18 thiệt mạng, 34 người tổn thương và bắt hơn 250 người cùng với vũ khí đáng kể. Điều này là tang vật chứng minh rõ ràng là những nhóm khủng bố cần được bài trừ để duy trì an ninh cho dân chúng. Chính quyền Hoa Kỳ hiểu sự quan trọng cấp tốc phải can thiệp vào nội bộ Colombia hầu mong thiết lập nền an ninh quốc gia từ năm 1989. Trong hai năm 1997-98 Hoa Kỳ giúp đở hai nước Peru và Bolivia làm giảm sản xuất và di chuyển ma túy thành công mỹ mãn và họ tiếp đi dần về phía bắc. Họ áp dụng 3 chính sách – thứ nhất cấm sản xuất ma túy, thứ nhì rãi thuốc (gluphosate) để giết cây cần sa, thứ ba họ lập chương trình giúp đở người dân trồng trọt lúa hay cây ăn trái, bắp, v.v... Với sự thành công của những chính sách này Hoa Kỳ muốn bành trướng về phía đông và nam của Colombia.
Sản xuất ma túy      1995       1996       1997       1998       1999
Peru                          460          435       325         240        175
Bolivia                      240          215       200         150        70
Colombia                  230          300       350         435   520 tấn/năm
Bảng kê sản xuất ma túy cho thấy những cố gắng của Hoa Kỳ làm giảm đáng kể việc sản xuất ma túy ở 2 nước Peru và Bolivia, ngược lại Colombia lại tăng đều. Hơn nữa Hoa Kỳ rất thất vọng khi thấy sư đoàn quân đội Colombia bị đánh bại năm 1997-98 bởi nhóm FARC. Tháng 11 năm 1999 Quốc hội Hoa kỳ biểu quyết giúp thêm 165$ triệu về quân sự và kinh tế cho Colombia trên một quỹ 124$ triệu đã được chấp thuận trước đó.
Một trong những nỗ lực gần đây nhất đã diễn ra khi chính quyền của Tổng thống Andrés Pastrana Arango, đàm phán với FARC trong giai đoạn 1998 và 2002.
Cuối thập niên 1999, Tổng thống Andrés Pastrana, đảng Bảo Thủ đã đưa ra một sáng kiến gọi là Kế hoạch Colombia (Plan Colombia), với hai mục tiêu chấm dứt xung đột vũ trang và thúc đẩy một chiến lược chống ma tuý mạnh. Yếu tố gây tranh cãi nhất của Kế hoạch là chiến lược chống ma tuý, gồm việc tăng hoạt động phun thuốc tiêu diệt cây coca từ trên không. Hành động này bị nhiều phe phái phản đối, họ cho rằng phun thuốc diệt cây từ trên không cũng có thể gây hại tới các loại cây khác, và gây ra những hậu quả xấu tới sức khỏe người dân. Những lời chỉ trích sáng kiến này cũng cho rằng kế hoạch thể hiện một cách tiếp cận mang tính quân sự cho các vấn đề nảy sinh từ tình trạng bất bình đẳng trong xã hội. Kế hoạch Colombia được tiếp tục thực hiện trong vòng 5 năm với tổng số quỹ tương đương 7.5 tỉ US – 4 tỉ do Colombia, 1.3 tỉ từ US và 2.2 tỉ từ Âu châu.
Trong thời cầm quyền của Tổng thống Álvaro Uribe, người được bầu với lời hứa hẹn áp dụng các biện pháp quân sự với FARC và các nhóm tội phạm khác, một số chỉ số an ninh đã được cải thiện, như số vụ bắt cóc giảm (từ 3700 năm 2000 xuống còn 800 năm 2005) và các vụ giết người cũng giảm hơn 48% từ tháng 7 năm 2002 tới tháng 5 năm 2005. Có ý kiến cho rằng những thành công này đã khuyến khích phát triển kinh tế và ngành du lịch.


Những nhà phân tích và phê bình bên trong Colombia đồng ý rằng đã có một số tiến bộ trong nhiều lĩnh vực như đề cập ở trên, nhưng lý do mang lại thành công vẫn chưa được đồng thuận và tính chính xác của những con số cũng là một vấn đề. Một số phe đối lập đã chỉ trích chiến lược an ninh của chính phủ, cho rằng chúng chưa đủ để giải quyết các vấn đề phức tạp tại Colombia và rằng nó đã góp phần tạo nên một môi trường thích hợp cho sự tiếp diễn của một số vụ vi phạm nhân quyền. Colombia duy trì quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ, coi Mỹ là bạn hàng chính và nguồn cung cấp viện trợ quan trọng (khoảng 7.5 tỷ USD trong 8 năm qua, là nước nhận viện trợ nhiều nhất của Mỹ ở Mỹ Latin, chỉ sau Việt Nam và Iraq). Mỹ tiếp tục thực hiện “Kế hoạch Colombia” thông qua tài trợ, cung cấp thiết bị quân sự dưới danh nghĩa chống ma túy và khủng bố. Tháng 8 năm 2009, Chính phủ Colombia ký thoả thuận cho phép Mỹ sử dụng 7 căn cứ quân sự trên lãnh thổ Colombia.
Từ đó Hoa Kỳ không ngừng gửi nhân viên cố vấn vũ trang chống ma túy DEA (Drug Enforcement Administration) đến Colombia giúp quốc gia này chiến đấu diệt khủng bố và buôn lậu, di chuyển ma túy vào Mỹ. Gần đây họ bắt được vài chiếc tiềm thủy đỉnh tí hon có xuất chuyển 10 tấn ma túy với giá 4 triệu đô la đang chạy trên sông ở biên giới giữa Ecuador và Colombia [7]. Chiếc tiềm thủy đỉnh tí hon này dài 100 ft và cao 10 ft. Quân vũ trang DEA còn thiết bị những dụng tối tân để nhìn thấy tàu bè di chuyển ban đêm, nhứt là tiềm thủy đỉnh tí hon chạy trên sông trước khi ra biển cả để đưa vào đất Mễ và Mỹ. Sau khi bắt được chiếc tiềm thủy đỉnh tí hon thứ nhất, hai chính quyền Colombia và Ecuador tiếp tục hợp tác để tấn công vào những trang trại (camp) của FARC năm 2008, giết chết 26 người.  Và những năm sau đó với những cố vấn của DEA họ khai thác được nhiều xưởng bí mật xây tiềm thủy đỉnh còn bỏ vở do tin tức cung cấp bởi những người đưa tin (informant) có ý định hợp tác với chính quyền. Mỗi lần người đưa tin chính xác để khám phá ra phòng lab biến chế ma túy hay xưởng chế tiềm thủy đỉnh tí hon sẽ được thưởng 500 đô.
4.            Tổ hợp ma túy Cali, North Valley và Medellin Cartel – Nhằm mục đích rửa tiền để cung cấp cho những hoạt động buôn bán ma túy và quân khủng bố bảo vệ tổ hợp, những tổ chức này phải hợp tác làm ăn với những hảng hoạt động hợp pháp (join venture) để điều hành và đở đầu. Người ta ước lượng có khoảng 7 tỉ đô la lợi tức thâu thập từ Hoa Kỳ về buôn bán ma túy.  Để đảm bảo nguồn lợi tức dồi dào từ việc buôn bán ma túy tổ trưởng Gilberto Rodriguez Orejuela vận động mạnh mẻ để được bầu vào chức tổng giám đốc nhà băng Banco de Trabajadores. Người ta tin chắc rằng nhà băng này rửa tiền từ vốn của những tổ hợp Medellin và Cali cartel. Tất cả hội viên của những tổ hợp này được rút tiền quá giới hạn mà không cần trả lại vốn. Lợi dụng lợi điểm này ông Gilberto có khả năng lập thêm nhà băng First InterAmericas Bank hoạt động ngoài Panama. Trong một cuộc thẩm vấn bởi Time magazine ông Gilberto khẳng định việc rửa tiền qua hệ thống ngân hàng và cho biết thêm ông làm việc này trong giới hạn hợp pháp theo luật của Panama mà thôi. Những năm sau đó ông Gilberto mở thêm Grupo Radial Colombiano, là một hệ thống vô tuyến truyền thanh gồm 30 đài radio và hệ thống dược Droga la Rebaja gồm 400 tiệm thuốc trên 28 tỉnh với vốn hơn 216 triệu đô và dùng 4,200 nhân viên.
Các lãnh tụ của Cali cartel bị chính quyền theo dõi và bắt được giữa năm 1990 với bản án 15 năm tù. Người ta tin rằng mặc dù ngồi trong tù nhưng lãnh tụ của Cali cartel điều đình với chính quyền tham nhũng để không bị đưa về Hoa Kỳ xét xử và vẫn tiếp tục điều hành cartel họ từ trong tù.
Jose Gonzalo Rodriguez Gacha và Pablo Escobar được biết như 2 lãnh tụ của tổ hợp ma túy Medellin. Sau đó một tên buôn ma túy trẻ hợp tác với nhóm tên Carlos Lehder và hắn đề nghị di chuyển ma túy bằng máy bay nhỏ vào Hoa Kỳ, với trạm tiếp xăng ở một đảo nhỏ để tránh những phiền phức vì những vali. Việc buôn này mang lại những lợi tức khổng lồ và nhóm bắt đầu xây dựng và trang bị tối tân những lab chế biến ma túy và xây trạm xăng ở đảo. Trong những năm 80 sự tranh giành quyền lợi trong nhóm, muốn ảnh hưởng đến chính quyền Colombia gây ra chết chóc và nhiều xung đột nội bộ. Escobar là nhân vật được biết nhiều nhất thời ấy như một nhân vật khủng bố, giết chóc và thanh toán. Hắn bị ghép tội đã giết nhiều nhân viên chính phủ, thẩm phán, nhà báo và nhiều người vô tội. Tổ hợp Medellin dần dà tan rã nội bộ vì thanh trừng lẫn nhau và Escobar bị cảnh sát bắn chết  trong một cuộc đụng độ năm 1990
5. Vận chuyển ma túy – Những hệ thống vận chuyển ma túy của Colombia kiểm soát chặt chẻ mọi khâu từ chế biến thành ma túy đến di chuyển vào Hoa Kỳ để tiêu thụ. Lúc đầu ma túy được dấu trong vali hay bất cứ hàng hóa có thể bao bằng nhựa như đèn, khung ảnh, và cả cửa sổ xuất khẩu bằng đường bay dân sự bình thường. Những năm 1960 khi dân tị nạn cộng sản Cuba di cư vào Mỹ thì Mafia Cuba trà trộn người vào hàng ngũ dân tị nạn này để xuất khẩu ma túy. Vào năm 1965 thì 100% ma túy nhập vào Hoa Kỳ bằng hệ thống này. Đến năm 1978 dân buôn lậu ma túy Colombia cắt đứt đường dây với dân Cuban và họ muốn kiểm soát 100% hàng ma túy nhập vào Mỹ. Sau đó những dân buôn ma túy giàu khá lên bắt đầu mua máy bay nhỏ di chuyển hàng bằng hàng không, sông ngòi và biển cả với tiềm thủy đỉnh tí hon. Họ mướn phi công gốc Mỹ đển dễ dàng việc di chuyển hàng, những phi công này thường là quân giải ngủ (veterans) hay phi công dân sự đã về hưu và ngay những phi công không có bằng lái miễn sao đưa hàng họ đến nơi an toàn. Phía bắc Colombia có khoảng 150 đường bay xây lậu. Hơn 2 phần ba ma túy nhập lậu vào Hoa Kỳ bằng đường bay, 18% bằng đường biển mà đa số nhập vào mủi Florida. Dần dà nhóm vũ trang chống ma túy DEA tăng dần lên nhiều đội kiểm soát vùng ven biển. Thí dụ trường hợp Devoe Airlines là một hãng hàng không thương mại US mà người chủ tên Jack Devoe có chuyên di chuyển hàng ma túy từ Colombia vào Mỹ bằng những máy bay của ông với một trạm tiếp nguyên liệu trên đảo Little Derby Island gần Bahamas. Hãng này có 8 nhân viên để chuyển lên và xuống hàng ở Bahamas. Thông thường Devoe lấy hàng ma túy từ Colombia vào Mỹ đi và về cùng ngày.  Ma túy được dấu kỹ trong bình xăng hai vỏ của phi cơ. Với hệ thống vận chuyển kín đáo như thế Devoe đã thực hiện được trên dưới 100 chuyến hàng vào Mỹ. Trường hợp thứ nhì Barry Seal tên thật là Adler Berriman Seal trước đây là phi công của hãng TWA 747. Ông ta được mướn bởi dân buôn ma túy từ 1970 đến 1980. Ông Seal lái máy bay VietNam Vintage C-123 có thể chở vài tấn cocaine nối liền Louisiana và Colombia. Ông Seal này thường lấy hàng và chở hàng về Louisiana ban đêm để tránh phiền phức. Theo ông Seal thì mỗi chuyến bay chuyển hàng như thế được trả 25 000 đô thời đó. Làm sao ông Seal có thể tránh được sự phát hiện của radar khi bay vào đất Mỹ?. Theo một cuộc phỏng vấn với ông Seal thì ông hay dùng đường bay xuyên vịnh Mexico vì có nhiều dàn khoan dầu ngoài khơi cho nên có nhiều trực thăng di chuyển qua lại ngày đêm. Lợi dụng thời thế ông Seal này lái máy bay dưới tọa độ thấp và chậm lại khoảng 110-120 knots để tránh màn radar. Khi vào được đất liên US ông Seal bay thấp hơn và bỏ hàng ma túy bằng dù xuống đất và cũng như đã tính trước máy bay trực thăng bay kèm và đáp xuống để lấy hàng rơi xuống đất với dù. Phi trường Bagota là nơi cơ quan an ninh kiểm soát gắt gao nhất. Có lần đài TV – Discovery tường trình là nhân viên an ninh phi trường Bagota bắt được một người đàn ông gốc Bolivian được mướn với giá 500 đô để nuốt vào trong bụng 73 capsules of cocaine lớn bằng lóng tay để di chuyển ma túy vào Mỹ.

6. Hậu quả của ma túy
Từ năm 1970 đến nay Colombia là một quốc gia nổi tiếng có nhiều khủng bố, có hệ thống buôn lậu ma túy phức tạp nhứt thế giới. Những tổ hợp ma túy ngày nay có khả năng tài chính để xây tiềm thủy đỉnh tí hon di chuyển ma túy. Họ mướn nhiều nhà khoa học, kỹ sư từ Hoa Kỳ và Nga để chế tạo dụng cụ tối tân này để vận chuyển những khối lượng lớn ma túy vào Hoa Kỳ. Giữa năm 1970 dân buôn ma túy nhập ma túy vào Mỹ bằng những vali bí mật có hai lớp vỏ. Họ trả giá 1,500$/kí lô trong rừng và bán ra ngoài đường phố USA với giá lẻ là 50,000$. Những lợi tức khổng lồ từ những việc buôn ma túy tạo thế đứng vững cho những cartel và những nhóm võ trang như FARC, ELN và AUC…
Chúng ta thử tưởng tượng nếu Colombia không có ma túy, không có những nhân vật như Pablo Escobar, Carlos Castano và Manuel Marulandas thì Colombia sẽ ra sao?. Hoặc đất đai của Colombia không thể trồng trọt được cần sa, coca sẽ như thế nào?. Ngày nay Colombia vẫn còn là một quốc gia nổi tiếng về ma túy và xứ sở này luôn cố gắng không ngừng chiến đấu chống ma túy. Không có quốc gia nào trên thế giới có số người thiệt mạng vì ma túy cao như Colombia. Từ năm 1990 đến nay đã có trên 500,000 người thiệt mạng ở Colombia và 250,000 người ở Mễ. Nhưng cái giá phải trả còn cao hơn những mạng người. Hơn 3 triệu dân quê phải rời ra khỏi quê cha đất tổ của họ để di tản vì quê làng họ luôn xảy ra những cuộc đụng độ bằng vũ khí. Dĩ nhiên chiến tranh ma túy có ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế của Colombia. Mặc dù kinh tế về ma túy hiện nay biểu hiệu 1.7% của GDP từ 4% (trước 2000) nhưng các điền chủ vườn ma túy có đủ khả năng để làm lay chuyển nền kinh tế Colombia. Theo giới chính quyền Colombia thì đa số điền chủ ma túy mua rất nhiều đất đai trong những vùng hẻo lánh để trồng cần sa làm chênh lệch tỷ lệ dân số vùng quê.
Từ năm 2000 Colombia vẫn tranh đấu không ngừng với nhiều kế hoạch được giúp đở bởi Hoa Kỳ như Plan Patriota để dành lại đất đai từ những nhóm khủng bố như nhóm FARC đã giảm hẳn từ 18 000 xuống 12,000 người, ký kết ngưng bắn với nhóm bán quân sự AUC, để cải tổ nền kinh tế và dân chủ được tốt hơn nhưng việc cải tiến này phải trả một giá rất cao. Trong 5 năm gần đây ngân sách quốc phòng nhảy vọt lên 5.3% so với 2.5% những năm 1988-95 và 3.3% cuối niên 1990. Cũng theo bài tường trình của Quốc hội Hoa Kỳ năm 2005 cho rằng cả thế giới cần lưu tâm đến tình trạng ma túy ở Colombia (Plan Colombia) vì hiện nay ma túy lan mạnh qua thị trường Âu châu và họ phê chuẩn thêm là Âu châu viện trợ quá ít vào Kế hoạch Colombia. Theo chính quyền Colombia cho biết năm 2003 Cộng đồng chung Âu châu chỉ yểm trợ 120 triệu đô cho kế hoạch Colombia trong khi muốn giải tán đám bán du kích nhỏ UAC phải cần 160 triệu đô. Các nước tân tiến phát biểu ý kiến trong buổi họp tại Cartegena ngày 3-4 tháng 2 năm 2005 rằng Colombia cần hoạch ra một kế hoạch luật pháp rỏ ràng để xét xử những phạm nhân của các nhóm khủng bố FARC, ELN hay bán quân sự AUC trước khi họ chấp nhận viện trợ tài chính.[13]
Không khó khăn gì khi so sánh Colombia với những quốc gia bình thường nơi mà chính phủ không cần phải chi một ngân sách khổng lồ về quốc phòng như vậy. Tưởng tượng nếu Colombia chỉ có 20 người bị ám sát (thiệt mạng) trên 100,000 (hiện thời là 36 người), không có vườn cỏ cần sa, không có quân khủng bố, không có ma túy để xuất khẩu thì chính phủ xứ này sẽ tiết kiệm được 9 tỉ đô hằng năm tương đương 3.6% GDP (250 billion in 2007).
Khi mà chiến tranh ma túy vẫn còn tiếp diễn ở Colombia thì sự an ninh của dân chúng vẫn còn đe dọa và nền kinh tế Colombia sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng, xã hội thế giới càng đồi trụy hơn…
Khi mà chiến tranh ma túy vẫn còn tiếp diễn ở Colombia thì sự an ninh của dân chúng vẫn còn đe dọa và nền kinh tế Colombia sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng, xã hội thế giới càng đồi trụy hơn…

Nguyễn Hồng Phúc - sưu tầm và nghiên cứu 


Xin mời xem tiếp phần 2
Tài liệu tham khảo 
1.    http://www.heritage.org/Research/Reports/2001/04/Helping-Colombia-Fix-Its-Plan -Helping  Colombia Fix Its Plan to Curb Drug Trafficking, Violence, and Insurgency. By Stephen Johnson  april 26, 2001
    2.           http://www.thirdworldtraveler.com/South_America/Paramilitaries_Colombia.html. THE "DRUG WAR" AND THE GUERRILLA WAR. Paramilitaries, Drug Trafficking

and U.S. Policy in Colombia by Samia Montalvo
3.Book – Inside Colombia – History of Rev Armed Force in Colombia (RAFC) - http://books.google.com/books?id=cOU0bvG8ZGwC&pg=PA180&dq=farc+colombia+founded&cd=12&hl=en#v=onepage&q=farc%20colombia%20founded&f=false
4.Inside Colombia – Book – Drug, Democracy and War by Grace Livingstone
    5.      http://narconews.com/Issue53/article3099.html  - Money Laundering & Murder in Colombia: Official Documents Point to DEA Complicity Kent Memo’s Corruption Allegations Bolstered by FOIA Records, Leaked U.S. Embassy Teletype.
    6.      http://www.cjpf.org/drug/prospectsforpeace.pdf - plan Colombia
    7.      http://csis.org/blog/ecuador-seizes-drug-trafficking-submarine
    8.      http://www.justice.gov/dea/pubs/cngrtest/ct031302.html
    9.      http://www.justice.gov/dea/pubs/pressrel/pr113005a.html
    10.   Cali Cartel money Laundering by Wikipedia
    11.   The United State and Colombia: The Journey from Ambiguity to Strategic Clarity
    12.   http://colombiareports.com/opinion/131-gustavo-silva-cano/7824-the-price-of-colombias-drug-war.html
    13.   Congressional Research Service – Plan Colombia : A Progress Report by Connie Veillette June 22 , 2005
Đọc tiếp →
Hiệu ứng tuyết rơi